ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

Hiển thị các bài đăng có nhãn Công ty Luật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Công ty Luật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 31 tháng 7, 2023

Tài sản gắn liền với đất bao gồm những loại gì?

Tài sản gắn liền với đất bao gồm những loại gì?

Trong thực tế có rất nhiều người vẫn chưa nắm rõ thế nào là tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. Tài sản gắn liền với đất được quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có hiệu lực vào ngày 15/5/2021 và khoản 1 Điều 104 Luật Đất đai 2013.

Cụ thể, tại khoản 4 Điều 3 Nghị định 21/2021/NĐ-CP, tài sản gắn liền với đất bao gồm những loại sau:

Nhà ở, công trình xây dựng thuộc dự án đầu tư xây dựng nhà ở;

  1. i) Nhà ở riêng lẻ theo quy định của Luật Nhà ở;
  2. ii) Công trình xây dựng khác;

iii) Cây lâu năm, rừng sản xuất là rừng trồng hoặc vật khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.

Trong khi đó, theo khoản 1 Điều 104 Luật Đất đai 2013, tài sản gắn liền với đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bao gồm:

  1. i) Nhà ở;
  2. ii) Công trình xây dựng khác;

iii) Rừng sản xuất là rừng trồng;

  1. iv) Cây lâu năm.

Các loại tài sản này phải có tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào, hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn hoặc hỗ trợ chi tiết. 

Thứ Ba, 21 tháng 3, 2023

Giải quyết tranh chấp lao động ở Việt Nam như thế nào?



Tranh chấp lao động là một trong những tranh chấp phổ biến trong xã hội, cụ thể đây là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ lao động; tranh chấp giữa các tổ chức đại diện người lao động với nhau; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động.  Thực tế, tranh chấp lao động xảy ra thường xuyên nhưng có nhiều tình huống người lao động thường có ít hiểu biết về quyền của mình dẫn tới thiệt thòi nếu như người sử dụng lao động cũng không nắm luật.  Do vậy, nhận diện tranh chấp trong lao động là rất quan trọng.  Đối với người lao động, việc tìm hiểu về luật lao động là để biết quyền lợi của mình.  Người sử dụng lao động cần hiểu luật lao động để đảm bảo tuân thủ.  Cả người lao động và người sử dụng lao động có thể tham vấn luật sư về tranh chấp trong lĩnh vực lao động để bảo vệ quyền lợi của mình.

Ví dụ trong thời gian dịch bệnh vừa qua, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về kinh doanh và phát sinh nhiều tranh chấp lao động phổ biến. Đối với người lao động, tranh chấp có thể phát sinh từ việc có được trả lương đúng hạn không? Có vi phạm gì dẫn tới việc bị chấm dứt hợp đồng lao động không?  Người sử dụng lao động đã tiến hành các thủ tục tái cơ cấu và thông báo cho các cơ quan nhà nước theo đúng quy trình hay chưa? Người sử dụng lao động có thỏa thuận với người lao động trước khi tạm hoãn hợp đồng lao động hay không?  Khi kinh doanh không hiệu quả, người sử dụng lao động có bắt buộc phải trả tháng lương thứ 13 cho người lao động hay không? 

Hiện nay, tranh chấp lao động được phân thành các loại dựa theo đối tượng tham gia tranh chấp, bao gồm: Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại. Tranh chấp lao động tập thể về quyền hoặc về lợi ích giữa một hay nhiều tổ chức đại diện người lao động với người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động.

Quá trình giải quyết tranh chấp lao động phải tuân theo các nguyên tắc: Tôn trọng quyền tự định đoạt thông qua thương lượng của các bên trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp lao động; Coi trọng giải quyết tranh chấp lao động thông qua hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích của hai bên tranh chấp, tôn trọng lợi ích chung của xã hội, không trái pháp luật; Công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng và đúng pháp luật; Bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động; Việc giải quyết tranh chấp lao động do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tiến hành sau khi có yêu cầu của bên tranh chấp hoặc theo đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và được các bên tranh chấp đồng ý.

Khi phát sinh tranh chấp lao động, một bên hoặc các bên có thể đề nghị Hòa giải viên lao động; Hội đồng trọng tài lao động hoặc Tòa án nhân dân giải quyết tranh chấp. Vấn đề về thời hiệu là vấn đề vô cùng quan trọng mà các bên cần phải lưu ý. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động là 06 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm. Đối với hình thức giải quyết tranh chấp thông qua Hội đồng trọng tài lao động thì thời hiệu là 09 tháng kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm. Trường hợp yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động thì thời hiệu là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.

Hết thời hiệu nêu trên, các bên tranh chấp sẽ không có quyền đề nghị các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Trường hợp người yêu cầu chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do khác theo quy định của pháp luật mà không thể yêu cầu đúng thời hạn thì thời gian có sự kiện bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc lý do đó không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp.


Nguồn:  https://www.antlawyers.com/dich-vu/giai-quyet-tranh-chap/giai-quyet-tranh-chap-lao-dong-o-viet-nam-nhu-the-nao/


For Clients Speaking English

ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Chủ Nhật, 25 tháng 12, 2022

Giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên mất cha mẹ


Giám hộ là một trong những chế định đặc biệt trong pháp luật dân sự, chế định này hướng đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhóm đối tượng chưa phát triển đầy đủ về thể chất hoặc trí lực trong xã hội. Có hai hình thức giám hộ được pháp luật quy định là giám hộ đương nhiên và giám hộ được cử, chỉ định bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Trong đó, giám hộ đương nhiên chỉ có thể là cá nhân. Quan hệ giám hộ dạng này được xác định bằng các quy định về người giám hộ, người được giám hộ, quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ và tài sản của họ.

Người chưa thành niên (người chưa đủ 18 tuổi) không còn cha mẹ là một trong các đối tượng được giám hộ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Họ được coi là những đối tượng yếu thế trong xã hội và cần được quan tâm chăm sóc, bảo vệ. Do đó, để tránh trường hợp những người này không có người giám hộ khi cha mẹ của họ đột ngột qua đời, pháp luật dân sự đã đưa ra quy định để xác định thứ tự lần lượt những người giám hộ đương nhiên dựa vào mối quan hệ huyết thống ruột thịt của họ như sau: (i) Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ. (ii) Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ. (iii) Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

Như vậy, theo thứ tự lần lượt như trên, người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên sẽ luôn được xác định cụ thể và người này phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ các điều kiện của người giám hộ, bao gồm: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ; Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác; Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.

Trong trường hợp người chưa thành niên không có người giám hộ đương nhiên thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người này có trách nhiệm cử người giám hộ. Bên cạnh đó, nếu có tranh chấp giữa những người giám hộ đương nhiên về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án sẽ chỉ định người giám hộ.

Theo đó, khi người chưa thành niên mất cha mẹ, theo quy định của pháp luật thì anh ruột, chị ruột sẽ là người giám hộ đương nhiên. Tuy nhiên, nếu người này không có anh, chị ruột thì ông bà nội, ông bà ngoại sẽ là người giám hộ đương nhiên của người này và cả ông bà nội, ông bà ngoại đều có quyền bình đẳng trong việc giám hộ cho cháu chưa thành niên theo quy định tại Bộ Luật dân sự và Khoản 1 Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau: “Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 105 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.”

Pháp luật luôn tôn trọng sự thỏa thuận tự nguyện của các đương sự trong việc xác định quyền giám hộ cho trẻ mất cả cha và mẹ. Ông bà nội, ông bà ngoại có thể thỏa thuận để cử ra một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ cho cháu chưa thành niên theo quy định. Trong trường hợp hai bên không thoả thuận được về người giám hộ cho cháu thì đây là dạng tranh chấp khác trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình. Do đó, căn cứ vào quy định tại Khoản 8 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, một trong các bên đương sự có thể làm đơn gửi đến Toà án cấp quận/huyện có thẩm quyền để đề nghị Toà án giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Tòa án sẽ căn cứ vào thực tế vụ việc, điều kiện làm giám hộ của các bên, quan hệ tình cảm giữa người giám hộ và người được giám hộ, khả năng bảo đảm việc phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần để quyết định giao cháu bé cho ai làm người giám hộ. Ngoài ra, nếu người được giám hộ từ đủ 6 tuổi trở lên thì Tòa án sẽ phải xem xét nguyện vọng của người này trong quá trình giải quyết tranh chấp để đưa ra một phán quyết chỉ định người giám hộ phù hợp nhất.

Tóm lại, pháp luật Việt Nam đã có những quy định rõ ràng và cụ thể để xác định người giám hộ đương nhiên cho người chưa thành niên mất cha mẹ. Bên cạnh đó, luật còn quy định việc xác định người giám hộ có thể có sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Uỷ ban nhân dân và Tòa án trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa những người giám hộ để cử, chỉ định ra người giám hộ một cách công bằng. Tất cả những quy định này nhằm đảm bảo người chưa thành niên được chăm sóc, nuôi dưỡng trong điều kiện tốt nhất để phát triển trong tương lai.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Chủ Nhật, 18 tháng 12, 2022

Đã có Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 có hiệu lực từ ngày 01/7/2023

Nguồn: Báo thế giới và Việt Nam

Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 ngày 14/11/2022.

Theo đó, tại Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 có một số điểm mới như sau:

1. Bổ sung hành vi bạo lực gia đình

Theo Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022, các hành vi bạo lực gia đình bao gồm:

- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;

- Lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

- Cưỡng ép chứng kiến bạo lực đối với người, con vật nhằm gây áp lực thường xuyên về tâm lý;

- Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, chăm sóc thành viên gia đình là trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người không có khả năng tự chăm sóc; không giáo dục thành viên gia đình là trẻ em;

- Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực của thành viên gia đình;

- Ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý;

- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;

- Tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm;

- Cưỡng ép thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của vợ hoặc chồng;

- Cưỡng ép trình diễn hành vi khiêu dâm; cưỡng ép nghe âm thanh, xem hình ảnh, đọc nội dung khiêu dâm, kích thích bạo lực;

- Cưỡng ép tảo hôn, kết hôn, ly hôn hoặc cản trở kết hôn, ly hỗn hợp pháp;

- Cưỡng ép mang thai, phá thai, lựa chọn giới tính thai nhi;

- Chiếm đoạt, hủy hoại tài sản chung của gia đình hoặc tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình;

- Cưỡng ép thành viên gia đình học tập, lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát tài sản, thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng lệ thuộc về mặt vật chất, tinh thần hoặc các mặt khác;

- Cô lập, giam cầm thành viên gia đình;

- Cưỡng ép thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở hợp pháp trái pháp luật.

* Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 được thực hiện giữa người đã ly hôn; người chung sống như vợ chồng; người là cha, mẹ, con riêng, anh, chị, em của người đã ly hôn, của người chung sống như vợ chồng; người đã từng có quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi với nhau cũng được xác định là hành vi bạo lực gia đình theo quy định của Chính phủ.

Như vậy, so với Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007, quy định mới đã bổ sung các hành vi bạo lực gia đình sau:

- Cưỡng ép chứng kiến bạo lực đối với người, con vật nhằm gây áp lực thường xuyên về tâm lý;

- Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, chăm sóc thành viên gia đình là trẻ em, phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người cao tuổi, người khuyết tật, người không có khả năng tự chăm sóc; không giáo dục thành viên gia đình là trẻ em;

- Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính, năng lực của thành viên gia đình;

- Ngăn cản thành viên gia đình gặp gỡ người thân, có quan hệ xã hội hợp pháp, lành mạnh hoặc hành vi khác nhằm cô lập, gây áp lực thường xuyên về tâm lý.

- Tiết lộ hoặc phát tán thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình của thành viên gia đình nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

- Cưỡng ép trình diễn hành vi khiêu dâm; cưỡng ép nghe âm thanh, xem hình ảnh, đọc nội dung khiêu dâm, kích thích bạo lực.

- Cưỡng ép mang thai, phá thai, lựa chọn giới tính thai nhi.

- Cô lập, giam cầm thành viên gia đình.

Ngoài ra, hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục trước đây được Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022  quy định chi tiết hơn như sau:

Cưỡng ép thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của vợ hoặc chồng.

2. Các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng chống bạo lực gia đình

- Hành vi bạo lực gia đình quy định tại mục 1.

- Kích động, xúi giục, lôi kéo, dụ dỗ, giúp sức, cưỡng ép người khác thực hiện hành vi bạo lực gia đình.

- Sử dụng, truyền bá thông tin, tài liệu, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực gia đình.

- Trả thù, đe dọa trả thù người giúp đỡ người bị bạo lực gia đình, người phát hiện, báo tin, tố giác, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình.

- Cản trở việc phát hiện, báo tin, tố giác, ngăn chặn và xử lý hành vi bạo lực gia đình.

- Lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để thực hiện hành vi trái pháp luật.

- Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp luật đối với hành vi bạo lực gia đình.

3. Chồng/ vợ cưỡng ép quan hệ tính dục có thể phải lao động công ích

Tại điểm i khoản 1 Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 thì cưỡng ép thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn của vợ hoặc chồng là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm.

Theo đó, trong trường hợp áp dụng biện pháp ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình là thực hiện phục vụ cộng đồng thì vợ hoặc chồng có hành vi cưỡng ép quan hệ tình dục trái ý muốn phải chấp hành theo quy định.

Biện pháp thực hiện phục vụ cộng đồng theo Điều 33 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 như sau:

-Công việc phục vụ cộng đồng là công việc có quy mô nhỏ trực tiếp phục vụ lợi ích của cộng đồng nơi người có hành vi bạo lực gia đình cư trú, bao gồm:

+ Tham gia trồng, chăm sóc cây xanh ở khu vực cộng đồng; sửa chữa, làm sạch đường làng, ngõ xóm, đường phố, ngõ phố, nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng hoặc công trình công cộng khác;

+ Tham gia công việc khắc nhằm cải thiện môi trường sống và cảnh quang của cộng đồng.

-Danh mục công việc tại khoản 1 Điều 33 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 do Chủ tịch UBND cấp xã công nhận trên cơ sở thảo luận, quyết định của cộng đồng dân cư theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở.

- Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người có hành vi bạo lực gia đình cư trú quyết định và tổ chức cho người có hành vi bạo lực gia đình thực hiện công việc phục vụ cộng đồng.

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2022 có hiệu lực từ ngày 01/7/2023, thay thế Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007.

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

 Nguồn: Thư Viện Pháp Luật