ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2022

Làm thế nào để tìm kiếm thông tin từ các nguồn chính thống?


Phương tiện truyền thông là một nguồn hiệu quả để chúng ta tìm hiểu kiếm tin cần thiết phục vụ cho việc tìm hiểu thông tin trong nghiên cứu, kinh doanh hay phục vụ cuộc sống. Tuy nhiên, với sự phát triển của Internet, truyền thông lại có sức ảnh hưởng mạnh mẽ hơn và là công cụ hàng đầu mà chúng ta thường sử dụng để tìm kiếm thông tin. Bên cạnh những lợi ích mà phương tiện truyền thông mang lại, thì phương tiện truyền thông cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro cho người dùng. Do đó, làm cách nào để tìm kiếm thông tin trên các phương tiện truyền thông chính thống là vấn đề nhận được sự quan tâm của nhiều người.

Việc kiểm tra các nguồn thông tin, đặc biệt là trên internet và sử dụng mạng xã hội ngày càng quan trọng. Bất kỳ cá nhân tham gia mạng truyền thông đều có thể viết bài và chia sẻ thông tin, ngay cả khi thông tin đó có thể sai. Trên thực tế, các hình ảnh và video cũng có thể bị đạo nhái, dán nhãn sai hoặc được bịa đặt để nói về các thông tin. Trong khi đó, khi người dùng không có thời gian để tìm hiểu, xác minh nguồn thông tin sai lệch và việc các thông tin này không được kiểm duyệt có thể làm lan truyền nhanh chóng trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Vì vậy để tránh việc truy cập hoặc tìm kiếm tin giả, tin không chính thống người dùng không nên dựa vào tất cả thông tin trên trên mạng xã hội.  Theo đó, người dùng nên kiểm tra các trang web tin tức đáng tin cậy hoặc các trang web của chính phủ. Bên cạnh đó, người dùng có thể kiểm tra tác giả, chức danh hoặc tên cơ quan, tổ chức nào đã viết hoặc phát hành thông tin, bài báo. Sau đó, người dùng sẽ có những đánh giá ban đầu về việc họ có đủ điều kiện để đăng thông tin và có thể tin tưởng những gì họ đã đăng.

Hơn nữa, trước khi chia sẻ bài đăng trên mạng xã hội, người dùng nên kiểm tra xem đó có phải là thông tin đáng tin cậy và xác thực hay không. Tuy nhiên, trên phương tiện truyền thông xã hội việc người dùng xác thực thông tin không phải là điều dễ dàng. Cách tốt nhất là người dùng nên lấy thông tin từ việc trực tiếp liên hệ hoặc cơ quan hoặc chuyên gia về lĩnh vực này hoặc tham khảo từ các báo cáo, nội dung của một trang tin tức uy tín.

Ngoài ra, người dùng nên tìm kiếm các cá nhân, tổ chức là chuyên gia đáng tin cậy trong chủ đề, lĩnh vực mà người dùng đang tìm kiếm thông tin. Trường hợp nếu người dùng đang có vấn đề về sức khỏe và muốn tham khảo các hướng dẫn hoặc đề xuất về nơi khám chữa bệnh thì người dùng nên gọi điện đến cơ sở y tế để được hướng dẫn và nhận lời khuyên từ các chuyên gia y tế hoặc truy cập trang web của Bộ Y tế để có được các thông tin chính thức và đáng tin cậy nhất. Hoặc nếu muốn tìm thông tin du lịch và nhập cảnh trong giai đoạn đại dịch Covid này thì người dùng có thể liên hệ, truy cập trang web của cục quản lý xuất nhập cảnh hay Lãnh sự quán có liên quan

Một vấn đề hiện nay đó là các kênh giả mạo đang cố gắng thiết kế giao diện một cách giống các trang web chính thức và chèn thêm các ký tự mà nếu không tỉnh táo người dùng rất dễ nhầm lẫn. Do đó, người dùng nên kiểm tra thật kỹ địa chỉ trang web mà mình lấy thông tin.

Trên đây là một số lưu ý cho người sử dụng phương tiện truyền thông khi tìm kiếm thông tin. có thể làm để đảm bảo rằng bạn đang đọc và chia sẻ thông tin uy tín. Bên cạnh việc đề cao cảnh giác và tìm các nguồn chính thống để lấy thông tin, người dùng có thể liên hệ với các đơn vị có chuyên môn để hỗ trợ hiệu quả và tiết kiệm thời gian.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2022

Một Số Điểm Mới Trong Dự Thảo Luật Đất Đai Sửa Đổi


Luật Đất đai được ban hành năm 2013, sau gần 10 năm áp dụng và thực thi trong thực tiễn đã mang lại những thành tựu nhất định trong việc quản lý, khai thác và sử dụng đất đai. Tuy nhiên, trước nhu cầu sử dụng đất tăng đáng kể đặc biệt ở các khu vực trung tâm thành phố, nhiều vấn đề phát sinh nằm ngoài tầm kiểm soát và điều chỉnh của luật. Do đó, yêu cầu sửa đổi, bổ sung đạo luật này được đặt ra sao cho phù hợp với thực tiễn và đem lại kết quả cao trong quá trình áp dụng. Mới đây, Cổng thông tin điện tử của Chính phủ đã công bố Dự thảo Luật đất đai và lấy ý kiến công chúng bao gồm người dân, chuyên gia, các doanh nghiệp, các luật sư về bất động sản   để hoàn thiện và chính thức ban hành Luật đất đai sửa đổi.

Về mặt tổng quan, Dự thảo Luật đất đai gồm 237 điều, trong đó giữ nguyên 48 điều; sửa đổi, bổ sung 153 điều; bổ sung mới 36 điều và bãi bỏ 8 điều so với Luật Đất đai 2013. Trong đó, có một số sự thay đổi đáng chú ý. Trước hết, đối với mục đích sử dụng đất, Dự thảo Luật đất đai bổ sung điều khoản về “đất sử dụng đa mục đích” (Điều 184), cho phép tổ chức, cá nhân có thể sử dụng đất cho nhiều mục đích khác nhau thay vì chỉ một mục đích duy nhất, miễn là đáp ứng được các nguyên tắc được đặt ra. Trong khi đó, Luật đất đai 2013 chưa có bất kỳ điều khoản nào quy định trực tiếp rằng các chủ thể có quyền sử dụng đất đa mục đích dù tình trạng này diễn ra phổ biến hiện nay, chẳng hạn như người sử dụng đất có thể kết hợp mục đích ở và kinh doanh tại cùng một thửa đất. Vì vậy, bổ sung quy định này vào Dự thảo là điều vô cùng hợp lý nhằm hợp pháp hóa việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, tăng hiệu quả sử dụng đất. Đồng thời, điều khoản này cũng đã nêu lên một số nguyên tắc cụ thể, bảo đảm việc đất sử dụng đa mục đích không bị lạm dụng dẫn đến vấn đề sử dụng đất bừa bãi, tùy ý.

Tiếp đó, Dự thảo Luật đất đai đã bỏ khung giá đất, chỉnh sửa quy định xác định giá đất. Đối với khung giá đất, Điều 113 Luật đất đai 2013 quy định là: “Chính phủ ban hành khung giá đất định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng…”. Điều khoản này hoàn toàn bị xóa bỏ trong Dự thảo. Bỏ khung giá đất đồng nghĩa với việc Nhà nước sẽ không áp dụng mức giá tối thiểu và tối đa đối với từng loại đất nữa. Thay vào đó, khi ban hành bảng giá đất của từng địa phương thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ căn cứ vào các nguyên tắc, các phương pháp định giá đất, các quy chuẩn và giá đất, sự biến động về giá đất thực tế trên thị trường để xây dựng ra bảng giá đất. Sau khi xây dựng xong bảng giá đất sẽ được trình Hội đồng nhân dân tỉnh trước khi thông qua. Căn cứ vào tình hình thực tế, xóa bỏ khung giá đất là điều đúng đắn bởi giá đất được ban hành bởi Chính phủ có sự chênh lệch rất lớn so với giá đất trên thị trường, dẫn đến tồn tại cơ chế hai giá đất. Điều này gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai của các cơ quan có thẩm quyền, hoạt động đầu tư đất đai của các nhà đầu tư và quyền lợi của người sử dụng đất. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về giá đất cũng tạo điều kiện cho tình trạng tham nhũng, cửa quyền trong đấu giá. Do đó, quyết định xóa bỏ khung giá đất trong Dự thảo Luật đất đai là một bước tiến vượt trội, tác động lớn đến lĩnh vực đất đai nói riêng và đời sống kinh tế – xã hội nói chung. Ngoài khung giá đất, các quy định liên quan đến bảng giá đất cũng được chỉnh sửa, bổ sung. Cụ thể, Điều 130 Dự thảo Luật đất đai bổ sung thêm căn cứ để xác định bảng giá đất là “giá đất phổ biến trên thị trường và biến động giá đất” và thay đổi định kỳ xây dựng bảng giá đất từ 5 năm một lần thành mỗi năm một lần. Quy định trong Dự thảo giúp cho bảng giá đất được đưa ra bởi Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh sẽ phù hợp và ít chênh lệch với giá đất thực tế.

Không chỉ vậy, trách nhiệm theo dõi, đánh giá việc quản lý và sử dụng đất đai được phân cấp cho các địa phương theo quy định của Dự thảo luật đất đai. Luật đất đai 2013 chưa từng quy định về việc phân cấp quản lý, sử dụng đất đai. Dự thảo đã bổ sung điều khoản điều chỉnh vấn đề này. Điều 223.4 quy định trách nhiệm thực hiện theo dõi và đánh giá từ cấp cao đến cấp thấp, từ cấp trung ương đến địa phương, bao gồm trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã. Các cơ quan nói trên đều phải thực hiện trách nhiệm theo dõi và đánh giá quá trình quản lý đất đai. Theo đó, cơ quan cấp trên sẽ quản lý cơ quan cấp dưới trực thuộc của mình nhằm đảm bảo tính minh bạch, đúng đắn trong việc quản lý và sử dụng đất đai. Cơ chế phân cấp quản lý giúp cho việc quản lý trở nên dễ dàng, nhanh chóng và đạt hiệu quả hơn việc một cơ quan quản lý tập trung tất cả các cơ quan còn lại.

Ngoài ra, Điều 124.1 Dự thảo Luật đất đai đã bổ sung các khoản thu tài chính từ đất đai so với Điều 107 Luật đất đai 2013. Một số khoản thu mới là thu tiền sử dụng đất khi sử dụng đất kết hợp với các mục đích khác; tiền sử dụng đất, tiền thuê đất tăng thêm đối với các dự án chậm tiến độ, không đưa đất vào sử dụng và tiền thu từ việc xử phạt vi phạm hành chính về đất đai. Đồng thời, Dự thảo bổ sung các khoản thu từ dịch vụ công đất đai tại Điều 125. Bổ sung những quy định này là cần thiết để tránh thất thoát ngân sách của Nhà nước đối với các nguồn lợi đến từ đất đai và thể hiện nghĩa vụ của chủ thể sử dụng đất.

Ngoài việc chỉnh sửa, bổ sung những quy định nổi bật nêu trên, Dự thảo Luật đất đai còn có nhiều điểm đổi mới khác. Dự thảo vẫn đang trong quá trình xem xét và lấy ý kiến đóng góp từ công chúng nên sẽ còn nhiều thay đổi. Tuy nhiên, những ưu điểm và tiến bộ của Dự thảo so với Luật đất đai hiện hành là điều hiển nhiên dễ dàng nhận thấy, thể hiện sự phát triển phù hợp với tình hình thực tế. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, nếu Dự thảo sửa đội được thông qua và chính thức có hiệu lực sẽ đem lại kết quả khả quan.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers


Thủ tục cấp giấy phép lao động cho lao động nước ngoài từ năm 2021

 


Pháp luật Việt Nam cho phép doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân, nhà thầu tuyển dụng người lao động nước ngoài vào làm vị trí công việc mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được theo nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là người có quốc tịch nước ngoài và phải đáp ứng các điều kiện sau đây: đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề, kinh nghiệm làm việc; có đủ sức khỏe theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; không phải là người đang trong thời gian chấp hành hình phạt hoặc chưa được xóa án tích hoặc đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc pháp luật Việt Nam; có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam cấp, trừ trường hợp người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động.

Vị trí công việc mà doanh nghiệp được tuyển dụng lao động nước ngoài làm việc bao gồm nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia và lao động kỹ thuật. Trong đó:

Nhà quản lý là người quản lý doanh nghiệp hoặc là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu của cơ quan, tổ chức.

Giám đốc điều hành là người đứng đầu và trực tiếp điều hành đơn vị trực thuộc cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp.

Chuyên gia là người lao động nước ngoài thuộc một trong các trường hợp sau đây[4]: có bằng đại học trở lên hoặc tương đương và có ít nhất 3 năm kinh nghiệm làm việc trong chuyên ngành được đào tạo phù hợp với vị trí công việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam; có ít nhất 5 năm kinh nghiệm và có chứng chỉ hành nghề phù hợp với vị trí công việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam; trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo đề nghị của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Lao động kỹ thuật là người lao động nước ngoài thuộc một trong các trường hợp sau đây: được đào tạo chuyên ngành kỹ thuật hoặc chuyên ngành khác ít nhất 01 năm và làm việc ít nhất 03 năm trong chuyên ngành được đào tạo; có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm công việc phù hợp với vị trí công việc mà người lao động nước ngoài dự kiến làm việc tại Việt Nam.

Trước khi nộp hồ sơ xin cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài, trước ít nhất 30 ngày kể từ ngày dự kiến sử dụng người lao động nước ngoài, người sử dụng lao động (trừ nhà thầu) có trách nhiệm xác định nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc mà người lao động Việt Nam chưa đáp ứng được và báo cáo giải trình với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có văn bản chấp thuận hoặc không chấp thuận về việc sử dụng người lao động nước ngoài đối với từng vị trí công việc trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo giải trình hoặc báo cáo giải trình thay đổi nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài.

Trước ít nhất 15 ngày, kể từ ngày người lao động nước ngoài dự kiến bắt đầu làm việc tại Việt Nam, người sử dụng lao động nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động gửi Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi người lao động nước ngoài dự kiến làm việc.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi người lao động dự kiến làm việc cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài. Trường hợp không cấp giấy phép lao động thì có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.

Sau khi người lao động nước ngoài được cấp giấy phép lao động thì người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài phải ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam trước ngày dự kiến làm việc cho người sử dụng lao động.

Người sử dụng lao động phải gửi hợp đồng lao động đã ký kết theo yêu cầu tới cơ quan có thẩm quyền đã cấp giấy phép lao động đó. Hợp đồng lao động là bản gốc hoặc bản sao có chứng thực.

Quy định về thủ tục cấp giấy phép lao động được thực hiện theo Bộ luật Lao động 2019, Nghị định 152/2020/NĐ-CP (có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2021). Doanh nghiệp có sử dụng lao động nước ngoài cần lưu ý thực hiện.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Thứ Ba, 23 tháng 8, 2022

Chính sách giảm thuế giá trị gia tăng

 

Nhằm mục tiêu kích thích tăng trưởng, phục hồi kinh tế sau ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, Chính phủ đã ban hành chính sách giảm thuế giá trị gia tăng. Việc giảm thuế giá trị gia tăng là giải pháp và là công cụ hiệu quả nhằm kích thích tiêu dùng và dự kiến sẽ tạo ra động lực phát triển nhanh chóng giúp các doanh nghiệp khôi phục tình hình kinh doanh, sản xuất.

Chính sách giảm thuế giá trị gia tăng đã được cụ thể hóa bằng Nghị định 15/2022/NĐ-CP quy định chính sách miễn, giảm thuế theo nghị quyết số 43/2022/QH15 của quốc hội về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội. Theo đó, thuế giá trị gia tăng sẽ giảm từ 10% xuống mức 8%. Mức giảm này sẽ tạo điều kiện cho người tiêu dùng tăng mức chi tiêu, qua đó doanh nghiệp sẽ bán được nhiều sản phẩm hơn.

Việc giảm thuế giá trị gia tăng sẽ được áp dụng đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất 10%, trừ nhóm hàng hóa, dịch vụ sau: (i) Viễn thông, hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh bất động sản, kim loại và sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, sản phẩm khai khoáng (không kể khai thác than), than cốc, dầu mỏ tinh chế, sản phẩm hóa chất; (ii) Sản phẩm hàng hóa và dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt; (iii) Công nghệ thông tin theo pháp luật về công nghệ thông tin. Tuy nhiên, nếu các hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng hoặc đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng 5% theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng thì thực hiện theo quy định của Luật Thuế giá trị gia tăng và không được giảm thuế giá trị gia tăng.

Liên quan đến mức giảm thuế giá trị gia tăng, các doanh nghiệp cần lưu ý đến phương pháp tính thuế giá trị gia tăng để áp dụng. Theo đó, nếu doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thì được áp dụng mức thuế suất thuế giá trị gia tăng 8% và trường hợp doanh nghiệp tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu thì sẽ được giảm 20% mức tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng khi thực hiện xuất hóa đơn đối với hàng hóa, dịch vụ được giảm thuế giá trị gia tăng theo quy định.

Có thể thấy, giảm thuế giá trị gia tăng trong bối cảnh hiện tại là giải pháp phù hợp. Bởi vì việc giảm thuế giá trị gia tăng sẽ được triển khai nhanh chóng và doanh nghiệp, người tiêu dùng sẽ ngay lập tức được hưởng lợi. Việc giảm thuế này được kỳ vọng sẽ giúp giá thành sản phẩm, dịch vụ giảm từ đó kích thích nhu cầu tiêu dùng của người dân. Bên cạnh đó, sẽ giúp tăng sản lượng sản xuất của doanh nghiệp và tạo thêm việc làm cho người lao động. Vì lẽ đó mà việc giảm thuế giá trị gia tăng được xem là cần thiết để thúc đẩy nền kinh tế sớm phục hồi sau thời gian dài bị ảnh hưởng của đại dịch.

Chính sách giảm thuế giá trị gia tăng sẽ có hiệu lực từ ngày 01 tháng 02 năm 2022 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2022. Đây được đánh giá là khoảng thời gian áp dụng phù hợp đáp ứng đúng mục tiêu hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội. Ngoài ra, thời hạn này sẽ giảm nguy cơ phát sinh lạm phát.

Trước đây, thuế giá trị gia tăng chỉ được giảm đối với một số sản phẩm đặc thù, tuy nhiên với chính sách này, đối tượng được giảm thuế đã được mở rộng hơn ở hầu hết các lĩnh vực kinh doanh, sản xuất. Do đó, tác động của chính sách này đến nền kinh tế trong tương lai là rất lớn. Tuy nhiên, để việc giảm thuế giá trị gia tăng đến được với người tiêu dùng, cơ quan quản lý thuế cần có sự kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ hơn để đáp ứng mục tiêu đã đề ra.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn:  ANT Lawyers

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2022

Rủi ro tranh chấp từ các giao dịch thông qua mạng xã hội

 

Mạng xã hội trở nên thông dụng và trở thành một phần tất yếu của cuộc sống hiện đại. Cùng với sự phát triển của internet, các ứng dụng mạng xã hội cũng được nhiều người sử dụng như một phương thức giao dịch để trao đổi, giao kết hợp đồng với nhau. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Việt Nam vẫn chưa có quy định cụ thể, rõ ràng để hướng dẫn, xử lý. Do đó, khi xảy ra các tranh chấp thì các bên rất khó để chứng minh tranh chấp và cơ quan có thẩm quyền cũng không có căn cứ giải quyết phù hợp.

Hiện nay, nền tảng mạng xã hội được sử dụng nhiều nhất trong các giao dịch kinh doanh là Facebook, Zalo, Youtube và Instagram. Thời gian gần đây, nhiều cá nhân, tổ chức phản ánh việc đối tác phủ nhận giao dịch mua bán qua mạng xã hội và gây thiệt hại. Tuy nhiên, chứng cứ cung cấp chỉ là các tin nhắn, biểu tượng…được lưu trữ trong các ứng dụng mạng xã hội mang nhiều hàm ý và dễ nhầm lẫn trong cách hiểu. Đây là các tranh chấp giao dịch điện tử khá phổ biến hiện nay nhưng chưa có hành lang pháp lý chặt chẽ để bảo vệ các bên có lợi ích chính đáng.

Hệ thống pháp luật về kinh doanh qua mạng xã hội chứa đựng trong các văn bản như: Luật thương mại, Luật doanh nghiệp, Luật Giao dịch điện tử, … và các thông tư, nghị định có liên quan. Tuy nhiên, các quy định này còn đơn giản, chưa bao quát và theo kịp với phát triển mạnh mẽ của lĩnh vực. Do đó, làm nảy sinh một số vấn đề phức tạp, vượt ngoài tầm kiểm soát của các quy định pháp lý và tạo ra nhiều khó khăn và bất cập khi xảy ra các tranh chấp kinh doanh trên mạng xã hội.

Cụ thể, những trường hợp cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, công

việc không có địa điểm cố định… thì quy định không phải đăng ký kinh doanh. Theo đó, Website có chuyên mục mua bán trên đó cho phép người tham gia đăng tin mua bán hàng hóa và dịch vụ phải tiến hành đăng ký với Bộ Công Thương dưới hình thức sàn giao dịch thương mại điện tử. Như vậy, chỉ doanh nghiệp vận hành mạng xã hội, website này như Zalo, Facebook mới phải tiến hành đăng ký giao dịch điện tử.

Có thể thấy, việc không phải đăng ký kinh doanh khiến cho xác định tính trung thực của giao dịch và cơ quan có thẩm quyền không nắm được thông tin các cá nhân, tổ chức đang giao dịch trên mạng xã hội đã gây khó khăn trong việc chứng thực tư cách giao dịch trên mạng xã hội khi tham gia kinh doanh. Phải chăng đây là “lỗ hổng” lớn của hệ thống pháp luật Việt Nam về việc kiểm tra, quản lý hệ thống kinh doanh trực tuyến

Liên quan đến việc xác định nội dung giao dịch trên mạng xã hội có phải là chứng cứ. Theo quy định pháp luật thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, thư điện tử và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử do đó, dữ liệu điện tử cũng là nguồn của chứng cứ sử dụng làm căn cứ để xác định hiệu lực của giao dịch. Như vậy, có thể thấy trên thực tế giao dịch qua mạng xã hội cũng là một hình thức giao dịch điện tử có giá trị pháp lý. Tuy nhiên, các giao dịch này hiện nay tiềm ẩn rất nhiều rủi ro.

Thực tế, đối với giao dịch qua mạng xã hội như Facebook, Zalo là các tài khoản chưa được xác minh và công nhận về độ tin cậy. Bởi vì, các tài khoản này có thể dễ dàng bị vô hiệu hóa, nội dung trao đổi có thể bị xóa hoặc ẩn, và tên chủ tài khoản cũng rất dễ để thay đổi. Hơn nữa, khi giao dịch, trao đổi qua mạng xã hội các bên không thể kiểm soát được người đang trao đổi là người có đủ thẩm quyền hay không. Bên vi phạm sẽ dựa vào các lý do trên để phủ nhận mọi nội dung đã trao đổi với đối tác. Ngoài ra, các tài khoản facebook lấy tên giả, sử dụng ảnh cá nhân của người khác làm ảnh đại diện trong khi chỉ trao đổi qua mạng xã hội nên không hiểu biết rõ về đối phương, dẫn đến tình trạng bị lừa đảo.

Giao dịch qua nền tảng mạng xã hội của nước ta đang phát triển mạnh và dự kiến sẽ mang lại giá trị. Tuy nhiên để góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững và an toàn của loại hình kinh doanh này cần thêm các quy định pháp lý điều chỉnh các vấn đề liên quan. Ngoài ra, để hạn chế các tranh chấp và rủi ro trong các giao dịch này các cá nhân, doanh nghiệp cần có sự tìm hiểu kỹ thông tin đối tác và lưu trữ thông tin giao dịch để đảm bảo quyền lợi của mình.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyer

Thứ Hai, 15 tháng 8, 2022

Các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam

 

Khởi nghiệp đang là chủ đề nhận được nhiều sự quan tâm tại Việt Nam, nhất là trong bối cảnh quốc gia hội nhập mạnh mẽ với kinh tế thế giới. Khởi nghiệp được kỳ vọng sẽ tạo sự tăng trưởng kinh tế, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội. Từ các ý tưởng khởi nghiệp dần dần xuất hiện các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam. Mỗi năm Việt Nam có hàng trăm doanh nghiệp được thành lập mới, trong đó số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số. Vì là các doanh nghiệp nhỏ và vừa nên việc đối mặt với sức ép cạnh tranh lớn từ các doanh nghiệp truyền thống lớn cũng như các đối thủ cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi.

 Việc xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa là căn cứ để Nhà nước có các chính sách hỗ trợ giúp các doanh nghiệp có thể đối mặt với sức ép cạnh tranh trên thị trường. Các tiêu chí để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm: lĩnh vực hoạt động, số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm, tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.

 Thứ nhất, doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 3 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 10 người và tổng doanh thu của năm không quá 10 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 3 tỷ đồng.

 Thứ hai, doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 50 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 20 tỷ đồng nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ. Doanh nghiệp nhỏ trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 50 người và tổng doanh thu của năm không quá 100 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 50 tỷ đồng nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ.

 Thứ ba, doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; lĩnh vực công nghiệp và xây dựng sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và tổng doanh thu của năm không quá 200 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ. Doanh nghiệp vừa trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ sử dụng lao động có tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 100 người và tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng hoặc tổng nguồn vốn của năm không quá 100 tỷ đồng nhưng không phải là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ.

 Vì có số lượng doanh nghiệp chiếm đa số trên thị trường Việt Nam nên Nhà nước đã đưa ra các chính sách để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa như: hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ thông tin, hỗ trợ tư vấn, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi từ hộ kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị. Doanh nghiệp nhỏ và vừa ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế của các quốc gia trên toàn thế giới. Với khả năng tạo ra cơ hội làm ăn kinh doanh và việc làm hiệu quả giúp cho mô hình doanh nghiệp này ngày càng được khuyến khích phát triển và nhận được sự hỗ trợ từ các cơ quan nhà nước để mở rộng và phát triển được mô hình doanh nghiệp này tại nước ta.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyer

Thứ Sáu, 12 tháng 8, 2022

Giải pháp phục hồi kinh tế Việt Nam sau đại dịch covid-19

 

Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, làm gián đoạn hoạt động kinh tế – xã hội của các quốc gia trên thế giới. Và nó đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế Việt Nam, đặc biệt là ảnh hưởng đến kết quả tăng trưởng kinh tế (GDP) cả nước. Các đợt dịch kéo dài khiến các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bình Dương,…, nơi tập trung đông dân cư, khu công nghiệp, khu chế xuất và các doanh nghiệp lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu, đóng góp nhiều cho phát triển kinh tế và thu ngân sách phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 trong thời gian dài. Điều này khiến GDP quý III/2021 có mức giảm 6,17% so với cùng kỳ năm 2020.

Khi đại dịch bùng phát, giãn cách xã hội kéo dài dẫn đến đứt gãy lưu thông, sản xuất kinh doanh bị đình trệ. Nhiều doanh nghiệp muốn duy trì sản xuất đã phải lựa chọn phương án sản xuất “3 tại chỗ” nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh, nếu không sẽ phải tạm ngừng hoạt động cho đến khi có thông báo mới từ trung ương hay tỉnh, thành phố đó. Ngay cả khi hoạt động như vậy, các doanh nghiệp cũng phải chịu chi phí vận hành rất lớn, lực lượng lao động thiếu hụt do nghỉ việc, cung ứng nguyên vật liệu bị gián đoạn nên nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã không thể hoàn thành đơn hàng đúng hạn, phải giãn hoặc hủy bỏ hợp đồng. Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, giải thể do kiệt quệ, không đủ lực để chống chịu dịch bệnh kéo dài. Một số doanh nghiệp phải tạm ngừng kinh doanh hoặc kinh doanh cầm chừng, trì hoãn việc sản xuất do không hiệu quả, thua lỗ trong điều kiện rất khó khăn. Thực tế đó đòi hỏi Đảng và Nhà nước phải đưa ra các giải pháp phù hợp để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và phục hồi nền kinh tế.

Để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất – kinh doanh, phục hồi kinh tế, Bộ Chính trị, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp tổng thể các biện pháp nhằm kịp thời ứng phó với dịch bệnh như: giảm lãi suất; cơ cấu lại nợ; giảm, giãn nộp thuế, bảo hiểm xã hội; miễn, giảm phí một số dịch vụ công; giảm, giãn nộp tiền thuê đất,… và đặc biệt là đã đưa ra gói hỗ trợ an sinh 62 nghìn tỷ đồng lớn chưa từng có. Tuy nhiên, bên cạnh tính hiệu quả, tích cực của các chính sách, giải pháp đã ban hành, trong quá trình tổ chức thực thi cũng cho thấy tồn tại một số hạn chế, vướng mắc như: (i) Việc quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số biện pháp do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành còn chưa kịp thời, việc triển khai thực hiện một số cơ chế, chính sách còn chậm, hiệu quả tổ chức thực hiện một số chính sách chưa cao; (ii) Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công thấp do giai đoạn đầu áp dụng điều kiện, tiêu chuẩn còn quá cao, quy trình, thủ tục rườm rà, thiếu linh hoạt; (iii) Thông tin, hướng dẫn chưa kịp thời đến doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ, hợp tác xã khó tiếp cận, chưa phù hợp nhu cầu của doanh nghiệp; (iv) Nhiều khó khăn tích tụ đến nay không chỉ là vấn đề của riêng doanh nghiệp mà trở thành vấn đề chung của ngành, lĩnh vực.

Do đó, để thực hiện có hiệu quả mục tiêu kép vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phục hồi, phát triển kinh tế – xã hội, bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh chiến dịch tiêm vắc-xin cho toàn dân, cần tổ chức thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau để phát triển kinh tế:

Thứ nhất, tiếp tục rà soát, hoàn thiện và nâng cao tính khả thi của các văn bản quy phạm pháp luật. Việc nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật để phát hiện những nội dung mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn, qua đó khẩn trương xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật, đáp ứng yêu cầu khai thông điểm nghẽn, hỗ trợ, thúc đẩy hoạt động đầu tư, sản xuất – kinh doanh.

Thứ hai, cải thiện môi trường kinh doanh thúc đẩy phục hồi kinh tế và gia tăng sức chống chịu sau đại dịch Covid-19. Một môi trường kinh doanh thuận lợi có ý nghĩa quan trọng đối với sức chống chịu lâu dài của nền kinh tế và giúp phục hồi nhanh chóng sau khủng hoảng. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hiện nay, việc tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh là điều quan trọng, bảo đảm khôi phục kinh tế và phục hồi niềm tin của các nhà đầu tư. Về trung và dài hạn, môi trường kinh doanh sẽ tác động đến cách thức vượt qua đại dịch và mức độ tận dụng cơ hội của các doanh nghiệp khi bắt đầu quá trình phục hồi. Chất lượng môi trường kinh doanh cũng có vai trò quan trọng đối với đầu tư nước ngoài và sự kiện kết của các doanh nghiệp nội địa với các chuỗi cung ứng toàn cầu. Thực tế cho thấy, cải thiện hiệu quả các quy định về thị trường hàng hóa và tạo thuận lợi cho kinh doanh sẽ hỗ trợ mạnh đối với phục hồi kinh tế sau khủng hoảng.

Thứ ba, chủ động, linh hoạt trong quản lý, điều hành thu chi ngân sách. Cần thường xuyên chủ động rà soát các khoản thu ngân sách, nhất là thu thuế, phí, thu khai thác khoáng sản, vãng lai, thu từ tiền sử dụng đất đối với các dự án chưa nộp. Triệt để thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên để ưu tiên dành nguồn chi đầu tư phát triển, tiết kiệm chi hành chính, hội họp, đi công tác; đồng thời bảo đảm nguồn lực cho phòng, chống dịch và tăng chi tiêu cho an sinh xã hội.

Thứ tư, đẩy mạnh hoàn thiện thủ tục đầu tư, thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công. Triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công là biện pháp quan trọng hàng đầu để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhất là các dự án trọng điểm, dự án khởi công mới. Do vậy, cần khẩn trương phân bổ và giao chi tiết kế hoạch đầu tư vốn ngân sách nhà nước cho các nhiệm vụ, dự án đúng quy định, phù hợp với tiến độ thực hiện và khả năng giải ngân, bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, manh mún, kéo dài. Trong thực hiện cần chủ động có kế hoạch và giải pháp cụ thể tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thi công; thanh toán vốn cho dự án ngay khi có khối lượng nghiệm thu theo quy định; chủ động điều chuyển kế hoạch vốn từ các dự án chậm giải ngân sang các dự án có tiến độ giải ngân tốt, còn thiếu vốn. 

Thứ năm, tăng chi cho an sinh xã hội và hỗ trợ việc làm cho người lao động. Cần rà soát và có chính sách hỗ trợ phù hợp với người có hoàn cảnh khó khăn do tác động của dịch bệnh, đặc biệt tăng cường hỗ trợ trực tiếp cho các nhóm dễ bị tổn thương như lao động phi chính thức và đối tượng thất nghiệp; Hỗ trợ chi phí thuê nhà cho người lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất; Cho người lao động vay ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội;… Việc triển khai các hỗ trợ cần phải linh hoạt hơn để đảm bảo tiền hỗ trợ được chuyển nhanh chóng và kịp thời đến các nhóm đối tượng được thụ hưởng. Bên cạnh đó, cũng cần có chính sách hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại người lao động; Nâng cao hiệu quả kết nối cung cầu lao động; Nâng cao năng lực các trung tâm dịch vụ việc làm, trường nghề chất lượng cao,… để góp phần hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động.

Thứ sáu, hỗ trợ phục hồi hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Hỗ trợ phục hồi hoạt động sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ), hợp tác xã, hộ kinh doanh bằng cách tiếp tục thực hiện các chính sách miễn thuế, giảm thuế, gia hạn thuế, phí, lệ phí, các chính sách cơ cấu lại nợ; Điều hành tăng trưởng tín dụng phù hợp, tiếp tục cơ cấu lại nợ, giữ nguyên nhóm nợ; Tiếp tục tiết giảm chi phí hoạt động của các ngân hàng thương mại để có dư địa giảm mặt bằng lãi suất cho vay, nhất là trong các ngành, lĩnh vực ưu tiên; Có chính sách hỗ trợ phù hợp cho một số ngành, lĩnh vực ưu tiên như sản xuất và chế biến nông, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ vận tải, du lịch, thúc đẩy thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp, sáng tạo, phát triển khu công nghiệp, khu công nghệ cao, xuất khẩu bền vững.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyer

Thứ Ba, 2 tháng 8, 2022

Hướng dẫn khai báo tạm vắng năm 2022

1. Trường hợp khai báo tạm vắng

Căn cứ theo khoản 1 Điều 31 Luật Cư trú 2020 quy định về trường hợp khai báo tạm vắng như sau:


(1) Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đang cư trú từ 01 ngày trở lên đối với:

- Bị can, bị cáo đang tại ngoại;

- Người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án nhưng đang tại ngoại hoặc được hoãn chấp hành án, tạm đình chỉ chấp hành án;

- Người bị kết án phạt tù được hưởng án treo đang trong thời gian thử thách;

- Người đang chấp hành án phạt quản chế, cải tạo không giam giữ;

- Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đang trong thời gian thử thách;

(2) Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đang cư trú từ 01 ngày trở lên đối với: 

- Người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

- Người phải chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ chấp hành;

- Người bị quản lý trong thời gian làm thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng;

(3) Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp huyện nơi đang cư trú từ 03 tháng liên tục trở lên đối với:

Người trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc người đang phải thực hiện các nghĩa vụ khác đối với Nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

(4) Đi khỏi phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi thường trú từ 12 tháng liên tục trở lên đối với:

Đối tượng không thuộc trường hợp (1), (2), (3) trừ trường hợp đã đăng ký tạm trú tại nơi ở mới hoặc đã xuất cảnh ra nước ngoài. 

2. Trình tự đăng ký tạm vắng

Khoản 2 Điều 31 Luật Cư trú 2020

*Đối với trường hợp (1), (2)

Bước 1: Nộp đề nghị khai báo tạm vắng

Trước khi đi khỏi nơi cư trú, người thuộc trường hợp (1), (2) phải đến khai báo tạm vắng tại cơ quan đăng ký cư trú nơi người đó cư trú;

Khi đến khai báo tạm vắng phải nộp đề nghị khai báo tạm vắng và văn bản đồng ý của cơ quan có thẩm quyền giám sát, quản lý, giáo dục người đó.

Bước 2: Cấp phiếu khai báo tạm vắng

Cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra nội dung khai báo.

Trong thời hạn 01 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị khai báo tạm vắng, cơ quan đăng ký cư trú cấp phiếu khai báo tạm vắng cho công dân;

Trường hợp phức tạp thì thời gian giải quyết có thể kéo dài hơn nhưng không quá 02 ngày làm việc.

*Đối với trường hợp (3), (4)

Bước 1: Khai báo tạm vắng

- Người quy định tại trường hợp (3), (4) có thể đến khai báo tạm vắng trực tiếp tại cơ quan đăng ký cư trú nơi người đó cư trú hoặc khai báo qua điện thoại, phương tiện điện tử hoặc phương tiện khác do Bộ trưởng Bộ Công an quy định.

Trường hợp người quy định theo trường hợp (4) là người chưa thành niên thì người thực hiện khai báo là cha, mẹ hoặc người giám hộ.

- Nội dung khai báo tạm vắng bao gồm 

+ Họ và tên;

+ Số định danh cá nhân hoặc số Chứng minh nhân dân, số hộ chiếu của người khai báo tạm vắng;

+ Lý do tạm vắng;

+ Thời gian tạm vắng;

+ Địa chỉ nơi đến.

Bước 2: Cập nhật thông tin khai báo vào CSDL về cư trú

Cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm cập nhật thông tin khai báo tạm vắng của công dân vào Cơ sở dữ liệu về cư trú và thông báo cho người khai báo về việc đã cập nhật thông tin khai báo tạm vắng khi có yêu cầu.

3. Hình thức khai báo tạm vắng

Đối với đối tượng thuộc trường hợp (1), (2)

Khoản 2 Điều 31 Luật Cư trú 2020 quy định về khai báo tạm vắng đối với trường hợp (1), (2) như sau:

Trước khi đi khỏi nơi cư trú, người quy định tại (1), (2) phải đến khai báo tạm vắng tại cơ quan đăng ký cư trú nơi người đó cư trú

Đối với đối tượng thuộc trường hợp (3), (4)

Tại Điều 16 Thông tư 55/2021/TT-BCA quy định về việc khai báo tạm vắng đối với đối tượng thuộc trường hợp (3), (4) được thực hiện theo một trong các hình thức sau đây:

- Trực tiếp tại cơ quan đăng ký cư trú hoặc tại địa điểm tiếp nhận khai báo tạm vắng do cơ quan đăng ký cư trú quy định;

- Số điện thoại hoặc hộp thư điện tử do cơ quan đăng ký cư trú thông báo hoặc niêm yết;

- Trang thông tin điện tử của cơ quan đăng ký cư trú hoặc qua Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Công an, Cổng dịch vụ công quản lý cư trú;

- Ứng dụng trên thiết bị điện tử.

Về phía Cơ quan đăng ký cư trú:

Cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thông báo hoặc niêm yết công khai địa điểm, số điện thoại, địa chỉ hộp thư điện tử, địa chỉ trang thông tin điện tử của cơ quan đăng ký cư trú, Cổng dịch vụ công quốc gia, Cổng dịch vụ công Bộ Công an, Cổng dịch vụ công quản lý cư trú, tên ứng dụng trên thiết bị điện tử tiếp nhận khai báo tạm vắng.

4. Không khai báo tạm vắng bị xử lý thế nào?

4.1. Xóa đăng ký thường trú

Tại điểm d khoản 1 Điều 24 Luật Cư trú 2020 quy định người thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị xóa đăng ký thường trú như sau:

Vắng mặt liên tục tại nơi thường trú từ 12 tháng trở lên mà không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác hoặc không khai báo tạm vắng;

Trừ trường hợp xuất cảnh ra nước ngoài nhưng không phải để định cư hoặc trường hợp đang chấp hành án phạt tù, chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng;

Như vậy, người thuộc trường hợp không đăng ký tạm vắng, không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác mà không thuộc trường hợp loại trừ sẽ bị xóa đăng ký thường trú

4.2. Xử phạt vi phạm hành chính

Căn cứ Điều 9 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đúng quy định về thông báo lưu trú, khai báo tạm vắng.

Như quy định nêu trên, khi người dân không thực hiện việc khai báo tạm vắng theo quy định sẽ bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 01 triệu đồng.

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Nguồn: Thư Viện Pháp Luật