ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

Thứ Năm, 29 tháng 9, 2022

Tranh chấp về phương thức giải quyết đối với người lao động khi tách doanh nghiệp


Tổ chức lại doanh nghiệp là việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Trong đó, khi tách doanh nghiệp, bên cạnh các vấn đề pháp lý liên quan đến thủ tục tách doanh nghiệp, đăng ký cho doanh nghiệp mới hình thành thì việc đưa ra phương án xử lý đối với lao động của công ty bị tách cũng cần được quan tâm. Công ty bị tách và công ty được tách cần phân bố, sử dụng nguồn lao động hiện có cho phù hợp. Điều quan trọng là phải đảm bảo lợi ích của người lao động. Cụ thể, đối với trường hợp tiếp tục sử dụng lao động, khi thực hiện tách doanh nghiệp, người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm tiếp tục sử dụng hết số lao động hiện có và tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Nếu không sử dụng hết lao động hay nhu cầu sử dụng lao động của công ty không hết số lao động hiện có thì doanh nghiệp phải xây dựng phương án sử dụng lao động cho phù hợp theo quy định của pháp luật. Cụ thể, phương án sử dụng lao động phải có những nội dung chủ yếu sau đây: Danh sách và số lượng người lao động tiếp tục được sử dụng, người lao động đưa đi đào tạo lại để tiếp tục sử dụng; Danh sách và số lượng người lao động nghỉ hưu; Danh sách và số lượng người lao động được chuyển sang làm việc không trọn thời gian; người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động; Biện pháp và nguồn tài chính bảo đảm thực hiện phương án. Doanh nghiệp cần lưu ý rằng khi xây dựng phương án sử dụng lao động phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

Trường hợp bắt buộc phải cho người lao động thôi việc, doanh nghiệp phải trả cho người lao động trợ cấp mất việc làm để quyền lợi của người lao động vẫn được đảm bảo khi tách doanh nghiệp. Bộ luật lao động 2012 đã có quy định cụ thể như sau: Người lao động đã làm việc thường xuyên cho người sử dụng lao động từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương. Trong đó, thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm.

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Nguồn: ANT Lawyers

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2022

Mức phạt đối với một số hành vi vi phạm trong lĩnh vực xây dựng tại Hà Nội


Trong bất cứ lĩnh vực nào thì việc xảy ra sai sót đều có thể xảy ra, chỉ khác nhau ở hậu quả thực tế. Nhất là trong hoạt động xây dựng, hậu quả xảy ra thật khó dự báo trước, những sai phạm trong hoạt động xây dựng dù ở mức độ nào cũng gây ảnh hưởng đến cá nhân, tập thể người sử dụng. Chính vì vậy, Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội ban hành Nghị quyết số 07/2014/NQ-HĐND quy định về mức tiền phạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng. Nội dung chính như sau:

Nghị quyết này quy định mức tiền phạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng tại Nghị định số 121/2013/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở (viết tắt là Nghị định số 121/2013/NĐ-CP) ở nội thành thành phố Hà Nội.

Nghị quyết đưa ra một số hành vi vi phạm và mức xử phạt đối với hành vi tương ứng của các chủ đầu tư; của nhà thầu và các tổ chức, cá nhân khác. Trong đó, mức tiền phạt quy định đối với hành vi vi phạm hành chính trong Nghị quyết bằng 02 lần mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm hành chính tương ứng trong Nghị định số 121/2013/NĐ-CP . Mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị quyết này là mức phạt đối với tổ chức. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức tiền phạt của tổ chức gấp 2 lần mức tiền phạt đối với cá nhân.

Các chức danh có thẩm quyền phạt tiền đối với các hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định số 121/2013/NĐ-CP có thẩm quyền xử phạt tương ứng với mức tiền phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại chương II của Nghị quyết này. Cụ thể, các chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo quy định này bao gồm: Thanh tra viên xây dựng; Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành; Chánh thanh tra Sở Xây dựng; Chánh thanh tra Bộ Xây dựng; Công an nhân dân; Quản lý thị trường; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp.

Trên đây là những nội dung chính của Nghị quyết số 07/2014/NQ-HĐND của HĐND Thành phố Hà Nội quy định về mức tiền phạt đối với một số hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng, cá nhân, tổ chức nên nắm được để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Nguồn: ANT Lawyers

Người chiếm hữu ngay tình và những quyền lợi được bảo vệ


Chiếm hữu ngay tình theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 là việc chiếm hữu mà người chiếm hữu có căn cứ để tin rằng mình có quyền đối với tài sản đang chiếm hữu. Người chiếm hữu ngay tình được pháp luật bảo vệ về quyền đối với tài sản chiếm hữu. Cụ thể như sau:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 184 Bộ luật dân sự 2015, người chiếm hữu ngay tình, liên tục, công khai được áp dụng thời hiệu hưởng quyền và được hưởng hoa lợi, lợi tức mà tài sản mang lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan. Người chiếm hữu ngay tình được bảo vệ quyền đó của mình và được bảo vệ quyền chiếm hữu khi đáp ứng các điều kiện cụ thể. Trước khi người thứ ba tham gia vào giao dịch dân sự thì đã có một giao dịch dân sự trước được xác lập, thực hiện những giao dịch dân sự trước đó đã bị vô hiệu. Bên cạnh đó, người thứ ba xác lập giao dịch dân sự phải ngay tình. Tài sản giao dịch đúng pháp luật và giao dịch dân sự phải có đền bù.

Chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu ngay tình theo quy định tại Điều 167 và Điều 168 Bộ luật dân sự 2015. Theo đó, tuỳ theo loại động sản có phải đăng ký quyền sở hữu hay không thì việc đòi lại động sản của chủ sở hữu có sự khác nhau nhất định. Cụ thể, chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.

Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Thứ Ba, 27 tháng 9, 2022

Quy trình nộp hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá


Tổ chức, cá nhân đại diện cho ngành sản xuất trong nước (sau đây gọi là “Bên yêu cầu”) có quyền nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá trong trường hợp nhận thấy hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá gây ra thiệt hại của ngành sản xuất trong nước (khoản 1 Điều 70 Luật Quản lý ngoại thương 2017). Quy trình nộp hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá bao gồm các giai đoạn:

Giai đoạn 1: Chuẩn bị hồ sơ

Hồ sơ yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá (sau đây gọi là “Hồ sơ yêu cầu”) bao gồm Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá (sau đây gọi là “Đơn yêu cầu”) và các giấy tờ, tài liệu có liên quan. Để Bên yêu cầu không mất thời gian bổ sung hồ sơ sau khi nộp thì Bên yêu cầu cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ căn cứ theo quy định tại Điều 28 Nghị định 10/2018/NĐ-CP.

Giai đoạn 2: Nộp hồ sơ

Bên yêu cầu nộp một (01) bộ Hồ sơ yêu cầu tới Phòng Điều tra bán phá giá và trợ cấp (sau đây gọi là “Cơ quan điều tra”) thuộc Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Công thương, có địa chỉ tại số 23 Ngô Quyền, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Cơ quan làm việc trong giờ hành chính từ thứ 2 đến thứ 6.

Trường hợp Bên yêu cầu muốn bảo mật một số thông tin trong Hồ sơ yêu cầu, Bên yêu cầu cần nộp hai (02) bộ hồ sơ bao gồm bản thông tin bảo mật và bản thông tin công khai. Đối với các thông tin bảo mật, Bên yêu cầu phải gửi kèm bản giải trình chi tiết về lý do đề nghị bảo mật và bản tóm tắt những nội dung của thông tin mật có thể công bố công khai cho các bên liên quan khác (khoản 3 Điều 11 Nghị định 10/2018/NĐ-CP).

Cơ quan điều tra sẽ thẩm định tính hợp lệ của Hồ sơ yêu cầu và sẽ thông báo về tính hợp lệ, đầy đủ của hồ sơ tới Bên yêu cầu trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ (khoản 1 Điều 30 Nghị định 10/2018/NĐ-CP).

Giai đoạn 3: Bổ sung hồ sơ

Trường hợp Hồ sơ yêu cầu không hợp lệ, không đầy đủ, Cơ quan điều tra sẽ thông báo bổ sung hồ sơ tới Bên yêu cầu. Bên yêu cầu sẽ có tối thiểu 30 ngày để bổ sung hồ sơ kể từ ngày Cơ quan điều tra thông báo yêu cầu bổ sung hồ sơ, thời gian cụ thể do Cơ quan điều tra quy định (khoản 2 Điều 30 Nghị định 10/2018/NĐ-CP).

Trường hợp Hồ sơ yêu cầu hợp lệ, đầy đủ, Cơ quan điều tra sẽ thông báo với các bên liên quan bao gồm Bên yêu cầu về việc nhận hồ sơ và bắt đầu quá trình thẩm định các điều kiện của Hồ sơ yêu cầu làm căn cứ để Bộ trưởng Bộ Công thương ra quyết định khởi xướng điều tra vụ việc chống bán phá giá. Thủ tục nộp hồ sơ yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đến thời điểm này là hoàn thành.

Nhìn chung, các thông tin trong Hồ sơ yêu cầu đều cần được đảm bảo tính chính xác, đầy đủ, tuy nhiên, để Hồ sơ yêu cầu vượt qua bước thẩm định điều kiện và trở thành căn cứ ra quyết định khởi xướng điều tra thì trước khi nộp Hồ sơ yêu cầu, Bên yêu cầu cần đặc biệt chú ý đảm bảo đầy đủ hai (02) điều kiện sau:

Điều kiện về tư cách chủ thể, Bên yêu cầu phải thỏa mãn tư cách đại diện hợp pháp cho ngành sản xuất trong nước theo quy định tại khoản 2 Điều 79 và khoản 2 Điều 87 của Luật Quản lý ngoại thương (điểm a khoản 2 Điều 31 Nghị định 10/2018/NĐ-CP).Bên yêu cầu được coi là đại diện cho ngành sản xuất trong nước khi đảm bảo đủ hai (02) yếu tố:

(i) Tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự được sản xuất của Bên yêu cầu và các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá phải lớn hơn tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự được sản xuất của các nhà sản xuất trong nước phản đối việc yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá;

(ii) Tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự được sản xuất của các nhà sản xuất trong nước nộp hồ sơ và các nhà sản xuất trong nước ủng hộ việc yêu cầu áp dụng biện pháp chống bán phá giá chiếm ít nhất 25% tổng khối lượng hoặc số lượng hàng hóa tương tự được sản xuất của ngành sản xuất trong nước.

Điều kiện về chứng cứ, Bên đại diện cần chuẩn bị đầy đủ tài liệu về việc bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam nhằm chứng minh việc bán phá giá các hàng hóa đó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành ngành sản xuất trong nước, căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 31 Nghị định 10/2018/NĐ-CP. Các nội dung cần chuẩn bị kỹ, đầy đủ bao gồm:

i) Thông tin về giá thông thường và giá xuất khẩu của hàng hóa được mô tả trong Đơn yêu cầu; biên độ bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu bị yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá;

ii) Thông tin, số liệu, chứng cứ về thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành ngành sản xuất trong nước;

iii) Thông tin, số liệu, chứng cứ về mối quan hệ nhân quả giữa việc nhập khẩu hàng hóa bị yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá và thiệt hại đáng kể hoặc đe dọa gây thiệt hại đáng kể hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành ngành sản xuất trong nước.

Khi đảm bảo cả hai điều kiện kể trên đầy đủ và chính xác, tỉ lệ vụ việc điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá được khởi xướng sẽ được nâng cao hơn rất nhiều.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2022

Các quy định về ký kết hợp đồng lao động với người nước ngoài


Với chính sách mở cửa nền kinh tế với các nước Việt Nam không những thu hút các nhà đầu tư đến với Việt Nam mà kéo theo đó là nhu cầu sử dụng lao động người nước ngoài ở các doanh nghiệp cũng ngày càng phát triển và đa dạng. Tuy nhiên, để các doanh nghiệp có thể sử dụng người lao động nước ngoài thì phải thông qua ký kết hợp đồng lao động với người nước ngoài.

Sau khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Bộ luật Lao động về đáp ứng các yêu cầu tuyển dụng và làm việc tại Việt Nam, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam tiến hành ký kết hợp đồng lao động trước ngày dự kiến làm việc cho người sử dụng lao động. Trong hợp đồng này người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài sẽ thống nhất tất cả các vấn đề phát sinh trong quá trình làm việc cũng như sử dụng lao động với nhau.

Thứ nhất, về vị trí làm việc trong hợp đồng lao động phải thể hiện đúng chức vụ, vị trí mà người sử dụng lao động đã xác định nhu cầu với cơ quan có thẩm quyền và đúng với vị trí làm việc thể hiện trong giấy phép lao động đã được cấp cho người lao động nước ngoài.

Về thời gian làm việc, thông thường sẽ do hai bên thỏa thuận nhưng phải đảm bảo không vượt quá số ngày (giờ) làm việc theo quy định của pháp luật Việt Nam. Số giờ làm thêm phải dựa theo việc tự nguyện và phải đảm bảo thời gian nghỉ ngơi, nghỉ trong thời gian làm việc và ngày nghỉ trong tuần cho người lao động nước ngoài.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 112 Bộ luật lao động có quy định ngoài các ngày nghỉ lễ, tết của Việt Nam, cho phép người lao động nước ngoài được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc khánh của nước họ. Đây là quy định mang tính nhân văn, tôn trọng văn hóa dân tộc các nước của Việt Nam. Vì vậy, người sử dụng lao động cần tìm hiểu về ngày Quốc khánh và Tết cổ truyền dân tộc của người lao động nước ngoài để cho người lao động được nghỉ theo đúng quy định của pháp luật.

Về thời hạn của hợp đồng lao động, thời hạn của hợp đồng lao động đối với người nước ngoài còn bị chi phối bởi thời hạn của Giấy phép lao động mà cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp. Theo đó, thời hạn của hợp đồng lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không được vượt quá thời hạn của Giấy phép lao động. Vì vậy, người sử dụng lao động cần lưu ý để giao kết thời hạn hợp đồng theo đúng quy định.

Ngoài ra, người sử động lao động và người lao động nước ngoài cần lưu ý về những điều khoản về tranh chấp khi phát sinh. Bởi vì, các điều khoản hợp đồng là cơ sở pháp lý quan trọng để giải quyết khi phát sinh tranh chấp lao động. Do đó,việc thống nhất trước cách giải quyết khi có tranh chấp phát sinh sẽ tạo nền tảng pháp lý rõ ràng giúp hai bên dễ dàng giải quyết.

Trên đây là những lưu ý khi ký kết và thực hiện hợp đồng lao động với người lao động nước ngoài. Người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài cần lưu ý và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật để quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng được tiến hành một cách thuận lợi và tuân thủ pháp luật.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Ngành chế biến, chế tạo dẫn đầu về thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam


Trong 05 tháng đầu năm 2021, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là ngành nghề dẫn đầu về thu hút đầu tư nước ngoài, với tổng số vốn đầu tư đạt 6,14 tỉ USD.

Theo Tổng cục Thống kê, trong 5 tháng đầu năm 2021, các nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 18 ngành, lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt 6,14 tỉ USD, chiếm 43,9% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 5,43 tỉ USD, chiếm 38,8% tổng vốn đầu tư đăng ký. Tiếp theo lần lượt là các lĩnh vực kinh doanh bất động sản, bán buôn, bán lẻ với tổng vốn đăng ký đạt 1,05 tỉ USD và gần 522 triệu USD.

Theo số liệu thống kê, tính tới cuối tháng 5/2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 14 tỉ USD, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2020; vốn thực hiện của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 7,15 tỉ USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm 2020.

Trong 5 tháng đầu năm 2021, có 613 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, tổng vốn đăng ký đạt gần 8,83 tỉ USD (tăng 18,6% so với cùng kỳ); 342 lượt dự án đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư, tổng vốn đăng ký tăng thêm đạt 3,86 tỉ USD; 1.422 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, tổng giá trị vốn góp đạt 1,31 tỉ USD.

Theo đối tác đầu tư, đã có 70 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam, trong đó Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư 5,26 tỉ USD, Nhật Bản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư 2,59 tỉ USD, Hàn Quốc đứng thứ ba với tổng vốn đầu tư đăng ký 1,83 tỉ USD, tiếp theo là Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan… Trong năm 2021, tuy vẫn chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, tuy nhiên, với nhiều chính sách khôi phục kinh tế, hỗ trợ nhà đầu tư, Việt Nam đã có nhiều thành tựu vượt trội trong thu hút FDI. Với thành tích này, Việt Nam hi vọng nhiều nhà đầu tư quốc tế lựa chọn Việt Nam là điểm đến thực hiện đầu tư không chỉ trong lĩnh vực chế biến chế tạo mà còn nhiều lĩnh vực đầu tư khác để có thể góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế cho cả Việt Nam và nhà đầu tư trong tương lai.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Thứ Năm, 22 tháng 9, 2022

Chuỗi cung ứng công nghệ lên kế hoạch rời Trung Quốc


Từ trước đến nay, Trung Quốc được xem là nơi được các nhà đầu tư công nghệ lớn như Nikkei, Apple, Amazon…tin tưởng và lựa chọn để đặt các nhà máy sản xuất do giá nhân công rẻ và có nhiều nguồn tài nguyên. Tuy nhiên, gần đây với những thay đổi của việc cung cấp nguồn điện trong vận hành nhà máy đã ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp công nghệ, chuỗi cung ứng và năng suất sản phẩm. Vì vậy nhiều doanh nghiệp công nghệ đã lên kế hoạch rời khỏi Trung Quốc để kiếm để tìm đến các quốc gia khác.

Việc dịch chuyển nhà xưởng ra khỏi Trung Quốc để thiết lập nhà xưởng sản xuất tại một quốc gia khác là một quyết định lớn và vô cùng phức tạp của các nhà đầu tư. Tuy nhiên, nguyên nhân mà các nhà đầu tư nước ngoài không mong muốn tiếp tục việc sản xuất tại Trung Quốc là do tình trạng ngắt điện trên diện rộng đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp. Đặc biệt là trong thời điểm hiện tại, mọi doanh nghiệp đều muốn tăng lượng hàng hóa sản xuất để phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ lớn của khách hàng trong giai đoạn đầu năm mới. Tuy nhiên việc ngắt điện đã diễn ra từ những tháng giữa năm 2021 và diễn ra ngày càng thường xuyên ảnh hưởng nhiều đến hoạt động bình thường của các doanh nghiệp công nghệ.

Bên cạnh đó, các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu nhận thấy họ không được coi trọng và đối xử công bằng. Bởi vì trong khi hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp ngoài Trung Quốc phải phụ thuộc vào lịch ngắt điện thì các doanh nghiệp trong nước vẫn được cung cấp điện để sản xuất. Đây là một sự phân biệt và không thiện chí của chính quyền Trung Quốc đối với doanh nghiệp nước ngoài. Hơn nữa, nhiều nhà đầu tư cũng cho rằng đối với các hoạt động sản xuất không mang lại nhiều giá trị cho Trung Quốc, cũng không được xem trọng và tạo điều kiện để phát triển.

Về lâu dài, việc này sẽ làm các chuỗi cung ứng trong hoạt động sản xuất bị đứt gãy. Do việc ngắt điện không những gây chậm trễ trong việc giao các đơn hàng, giảm sút năng suất sản phẩm đầu ra mà còn ảnh hưởng đến giá cả, uy tín cũng như chất lượng hàng hóa của doanh nghiệp. Đây cũng là một vấn đề bất ổn mà các nhà đầu tư lo ngại sẽ ngày càng trầm trọng hơn.

Hiện nay, các nhà đầu tư công nghệ đang dự định chuyển dịch ra ngoài Trung Quốc, trong đó, Việt Nam là quốc gia có đủ yếu tố trở thành một điểm đến phù hợp. Việt Nam đang thực hiện các chính sách ưu tiên, phát triển công nghệ, cùng với các chính sách hỗ trợ, miễn, giảm thuế cho các doanh nghiệp khoa học công nghệ. Các chính sách này không phân biệt doanh nghiệp nội địa hay doanh nghiệp quốc tế, là điều kiện đầu tiên giúp Việt Nam trở thành điểm đến đáng đầu tư hiện nay. Bên cạnh đó, Việt Nam có nguồn lao động trẻ, dồi dào, được đào tạo phù hợp, đáp ứng các điều kiện kinh doanh và phát triển của các doanh nghiệp công nghệ trên thế giới. Ngoài ra, chi phí thuê mặt bằng tại Việt Nam tương đối thấp so với các quốc gia trong khu vực, và vị trí địa lý gần Trung Quốc, sẽ thuận tiện cho việc dịch chuyển của các doanh nghiệp ra khỏi Trung Quốc.

Trong thời gian tới, với những chính sách thu hút và phát triển đầu tư trong khoa học công nghệ, Việt Nam sẽ là điểm đến đầu tư của doanh nghiệp công nghệ quốc tế.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Thứ Tư, 21 tháng 9, 2022

Từ tháng 10/2022, chính sách tiền lương của công chức, viên chức có điểm gì mới?

Từ tháng 10/2022, quy định mới về chính sách tiền lương của công chức, viên chức của một số ngành sẽ chính thức có hiệu lực.

Lương viên chức biên tập viên, phóng viên, biên dịch viên

Từ ngày 10/10/2022, Thông tư số 13/2022/TT-BTTTT chính thức có hiệu lực sẽ áp dụng cách xếp lương của viên chức biên tập viên, phóng viên, biên dịch viên, đạo diễn truyền hình thuộc chuyên ngành thông tin và truyền thông.

Cụ thể, Điều 17 Thông tư 13 quy định cách xếp lương của viên chức thuộc chuyên ngành thông tin, truyền thông như sau:

- Đối với Biên tập viên/ Phóng viên/ Biên dịch viên/ Đạo diễn truyền hình hạng I: Mức lương từ 9.238.000 - 11.920.000 đồng/tháng (hệ số lương từ 6,2 - 8,0).

- Đối với Biên tập viên/ Phóng viên/ Biên dịch viên/ Đạo diễn truyền hình hạng II: Mức lương từ 6.556.000 - 10.102.200 đồng/tháng (hệ số lương từ 4,4 - 6,78).

- Đối với Biên tập viên/ Phóng viên/ Biên dịch viên/ Đạo diễn truyền hình hạng III: Mức lương từ 3.486.600 - 7.420.200 đồng/tháng (hệ số lương từ 2,34 - 4,98).

Lương viên chức chuyên ngành lưu trữ

Ngoài công chức, viên chức hai chuyên ngành trên, từ tháng 10/2022, cụ thể là 15/10/2022, viên chức chuyên ngành lưu trữ cũng áp dụng cách xếp lương theo quy định của Thông tư 07/2022/TT-BNV.

Theo đó, Thông tư 07 có quy định cách xếp lương khi hết thời gian tập sự như sau:

Lương công chức ngành nông nghiệp, phát triển nông thôn

Các ngạch công chức chuyên ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn sẽ được xếp lương theo quy định tại Thông tư số 08/2022/TT-BNNPTNT từ 06/10/2022.

Cụ thể, công chức ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn gồm các ngạch công chức chuyên ngành:

- Kiểm dịch động vật: Kiểm dịch viên chính, kiểm dịch viên và kỹ thuật viên kiểm dịch.

- Kiểm dịch thực vật: Kiểm dịch viên chính; kiểm dịch viên và kỹ thuật viên kiểm dịch.

- Kiểm soát đê điều: Kiểm soát viên chính, kiểm soát viên, kiểm soát viên trung cấp.

- Kiểm lâm: Kiểm lâm viên chính, kiểm lâm viên và kiểm lâm viên trung cấp.

- Kiểm ngư: Kiểm ngư viên chính, kiểm ngư viên, kiểm ngư viên trung cấp.

- Thuyền viên kiểm ngư: Thuyên viên kiểm ngư chính; thuyền viên kiểm ngư; thuyền viên kiểm ngư trung cấp.

- Thuyền viên kiểm ngư: Thuyền viên kiểm ngư chính, thuyền viên kiểm ngư và thuyền viên kiểm ngư trung cấp.

Theo đó, căn cứ vị trí việc làm, nhiệm vụ cũng như chuyên môn công chức ngành này đảm nhiệm, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định cách xếp lương của các ngạch công chức này như sau:


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: cafebiz.vn


 


Đăng ký thành công nhãn hiệu tại Hoa Kỳ


Trải qua giai đoạn thẩm định hình thức, vào tháng 3 năm 2021, WIPO đã cấp Giấy chứng nhận Đăng ký, chứng nhận đơn đăng ký trên đã đáp ứng các yêu cầu về mặt hình thức của WIPO. Sau giai đoạn này, WIPO thông báo cho Cơ quan Sở hữu trí tuệ Hoa Kỳ để cơ quan này tiến hành thẩm định nội dung. 

Trong quá trình thẩm định nội dung, Cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Hoa Kỳ (USPTO) đã ra một Thông báo từ chối tạm thời vào tháng 05 năm 2021. ANT Lawyers đã tiếp tục trợ giúp Khách Hàng chuẩn bị và khắc phục các nội dung trong thông báo từ chối, và nộp công văn trả lời tương ứng tại USPTO. 

Sau 7 tháng thẩm định nội dung, vào tháng 10 năm 2021, nhãn hiệu Live Forever Young đã được đăng ký thành công tại Hoa Kỳ và USPTO đã cấp Giấy chứng nhận Đăng Ký. Theo đó, Giấy chứng nhận Đăng Ký này sẽ có đầy đủ hiệu lực trong thời hạn 10 năm kể từ ngày cấp và có thể gia hạn.

Đăng ký nhãn hiệu tại Hoa Kỳ có ý nghĩa rất quan trọng đối với Khách Hàng. Đây là bước đầu mở ra cơ hội lớn cho việc xâm nhập vào thị trường tiềm năng tại Hoa Kỳ. Với sự trợ giúp của ANT Lawyers đến từ các chuyên gia về sở hữu trí tuệ cũng như hệ thống quan hệ hợp tác với các hãng luật và đại diện sở hữu công nghiệp trên thế giới, ANT Lawyers đã giúp khách hàng đạt được mục đích đồng thời góp phần bảo vệ tối đa quyền và khai thác lợi ích hợp pháp từ các tài sản trí tuệ cũng như giảm thiểu rủi ro trong quá trình đăng ký nhãn hiệu quốc tế.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

Nguyên tắc trả lương cho người lao động theo Bộ luật Lao động 2019


Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động căn cứ vào tiền lương đã thỏa thuận, năng suất lao động và chất lượng thực hiện công việc. Tiền lương ghi trong hợp đồng lao động và tiền lương trả cho người lao động bằng tiền Đồng Việt Nam, trường hợp người lao động là người nước ngoài tại Việt Nam thì có thể trả lương bằng ngoại tệ.

Nguyên tắc trả lương, người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động[1]. Trường hợp người lao động không thể nhận lương trực tiếp thì người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp. Bên cạnh đó, người sử dụng lao động không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của người lao động; không được ép buộc người lao động chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của người sử dụng lao động hoặc của đơn vị khác mà người sử dụng lao động chỉ định.

Mỗi lần trả lương, người sử dụng lao động phải thông báo bảng kê trả lương cho người lao động, trong đó ghi rõ tiền lương, tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc vào ban đêm, nội dung và số tiền bị khấu trừ (nếu có)[2].

Về kỳ hạn trả lương[3]: Người lao động hưởng lương theo giờ, ngày, tuần thì được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc hoặc được trả gộp do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 15 ngày phải được trả gộp một lần; Người lao động hưởng lương theo tháng được trả một tháng một lần hoặc nửa tháng một lần, thời điểm trả lương do hai bên thỏa thuận và phải được ấn định vào một thời điểm có tính chu kỳ; Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán được trả lương theo thỏa thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hằng tháng được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.

Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì không được chậm quá 30 ngày; nếu trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng số tiền lãi của số tiền trả chậm tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do ngân hàng nơi người sử dụng lao động mở tài khoản trả lương cho người lao động công bố tại thời điểm trả lương[4].

Trả lương không đúng hạn; không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho người lao động theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động, người sử dụng lao động sẽ bị phạt tiền theo một trong các mức sau đây[5]: từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động; từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động; từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động; từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động; từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng với vi phạm từ 301 người lao động trở lên. Đồng thời người sử dụng lao động buộc trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.

Như vậy, theo quy định của Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho người lao động. Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng hạn thì chỉ được nợ trong vòng 01 tháng. Quá thời hạn này, người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không cần báo trước[6] hoặc thực hiện khiếu nại, khiếu kiện tại cơ quan có thẩm quyền. Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải tranh chấp lao động cá nhân là 06 tháng; yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà bên tranh chấp cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2022

Chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần


Theo quy định của pháp luật Việt Nam, có 4 loại hình doanh nghiệp là: Doanh nghiệp tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần. Đối với công ty cổ phần, vốn điều lệ sẽ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, tuy nhiên vẫn sẽ có những hạn chế nhất định.

Trong vòng 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp bởi cơ quan có thẩm quyền, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập có thể được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác, tuy nhiên cổ phần đó chỉ được chuyển nhượng cho người mà không phải là cổ đông sáng lập nếu như có được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trong trường hợp này, cổ đông sáng lập dự định chuyển nhượng cổ phần phổ thông sẽ không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng cổ phần đó. Bên cạnh đó, nếu Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần thì việc chuyển nhượng của cổ đông cũng cần phải tuân theo những quy định trong Điều lệ của doanh nghiệp và các quy định này sẽ chỉ có hiệu lực khi chúng được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng.

Việc chuyển nhượng cổ phần thường được các bên thực hiện bằng giao dịch trên thị trường chứng khoán hoặc thông qua hợp đồng. Trường hợp các bên chuyển nhượng cổ phần bằng hợp đồng thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên nhận chuyển nhượng hoặc người đại diện theo ủy quyền của họ và bên chuyển nhượng ký. Nếu các bên giao dịch trên thị trường chứng khoán thì trình tự, thủ tục chuyển nhượng cổ phần sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

Cổ đông của công ty cổ phần có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ cổ phần của mình tại công ty cho cá nhân, tổ chức khác hoặc sử dụng cổ phần đó để trả nợ. Khi đó, tổ chức, cá nhân  được tặng cho hoặc nhận trả nợ bằng cổ phần sẽ trở thành cổ đông của công ty. Tuy nhiên, họ sẽ chỉ trở thành cổ đông doanh nghiệp kể từ thời điểm các thông tin của họ được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông.

Trong trường hợp cổ đông của công ty là cá nhân chết thì người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của cổ đông đó sẽ trở thành cổ đông mới của công ty. Nếu cổ đông đó chết mà không có người thừa kế, người thừa kế từ chối nhận thừa kế hoặc bị truất quyền thừa kế thì số cổ phần của cổ đông đã chết sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự.

Điểm lưu ý cuối cùng là khi có sự kiện chuyển nhượng cổ phần, công ty cần phải đăng ký thay đổi cổ đông trong sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu của cổ đông có liên quan trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu theo quy định tại Điều lệ công ty.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2022

Việt Nam và Anh ký 26 thỏa thuận hợp tác


Chuyến đi của Thủ tướng Phạm Minh Chính đến Vương Quốc Anh vào ngày 31/10/2021 là chuyến đi mang nhiều ý nghĩa đối với Việt Nam. Đặc biệt, trong giai đoạn nền kinh tế đất nước đang trong quá trình phục hồi sau đại dịch. Chuyến đi của Thủ tướng đã hiện thực hóa nhiều mục tiêu trọng với rất nhiều hoạt động cả trên diễn đàn đa phương và tiếp xúc song phương, kết hợp gặp gỡ cộng đồng người Việt và doanh nghiệp.

Với chuyến đi này, thủ tướng đã tham gia vào 26 thỏa thuận hợp tác hàng tỷ USD giữa Việt Nam và Anh. Nhiều thỏa thuận hợp tác của doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam với đối tác Anh vừa được ký kết. Các thỏa thuận hợp tác này dự tính sau khi được tiến hành thực hiện sẽ mang lại nhiều thuận lợi kinh tế cũng như thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước.

Cụ thể, với sự chứng kiến của Thủ tướng, hãng Hàng không Vietjet và Tập đoàn Rolls-Royce ký kết thỏa thuận cung cấp động cơ và dịch vụ động cơ cho đội tàu bay thân rộng với tổng giá trị 400 triệu USD. Với thỏa thuận này, động cơ của máy bay hãng Hàng không Vietjet sẽ được cải thiện về vòng đời tiêu thụ nhiên liệu thấp nhất và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho tàu bay.

Bên cạnh đó, Tập đoàn Sovico và Viện Đại học Oxford ký biên bản ghi nhớ hợp tác, tài trợ đầu tư phát triển nghiên cứu, giáo dục với tổng giá trị 155 triệu bảng Anh. Trong đó, Quỹ học bổng 7,5 triệu bảng Anh sẽ dành cho sinh viên Việt Nam và các nước trong khu vực. Đây là nguồn học bổng tiềm năng và rất quý giá đối với sinh viên Việt Nam.

Tại buổi lễ, Quỹ Đầu tư Affinity và Ngân hàng HDBank của Việt Nam cũng đồng ý ký kết tài trợ 300 triệu USD cho chương trình phát triển bền vững, chống biến đổi khí hậu. Đây là hợp tác mang ý nghĩa lớn đến môi trường cũng như bày thể hiện quan tâm sâu sắc đến tình trạng biến đổi khí hậu hiện nay.

Trong khi đó, Tập đoàn Giáo dục EMG Education ký kết biên bản ghi nhớ về hợp tác giáo dục toàn diện với Tập đoàn Giáo dục Pearson; Tập đoàn Vingroup và đại diện Công ty Raphael Labs (Anh) ký thỏa thuận về hợp tác phát triển đầu tư thử nghiệm và chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc phòng Covid-19 và các bệnh đường hô hấp. Thỏa thuận này dự báo sẽ giúp các bên cùng nhau thúc đẩy nghiên cứu, tìm ra công nghệ sản xuất vắc xin hiệu quả, góp phần nhanh chóng đưa đời sống kinh tế- xã hội về trạng thái bình thường.

Thêm vào đó, Tập đoàn T&T, đại diện Đại học Y Hà Nội và đại diện Tập đoàn Hipra (Tây Ban Nha) trao thỏa thuận về hợp tác xây dựng Trung tâm nghiên cứu vaccine tại Việt Nam và đào tạo nguồn nhân lực. Hợp tác này sẽ giúp Việt Nam có cơ hội đào tạo nguồn nhân lực, tiếp cận với công nghệ khoa tiên tiến của Tây Ban Nha.

Hơn nữa, trong các thỏa thuận vừa được ký kết còn có ý định thư tham gia sáng kiến Liên minh giảm phát thải thông qua tăng cường tài chính lâm nghiệp; thỏa thuận hợp tác xây dựng kế hoạch hành động để tăng cường liên kết cơ sở giáo dục đại học giữa hai nước; biên bản ghi nhớ về tăng cường hợp tác trong giáo dục; thỏa thuận hợp tác xây dựng các chương trình đào tạo nhân lực cho Bộ Kế hoạch & Đầu tư và hỗ trợ khởi nghiệp; thỏa thuận hợp tác chuyển giao công nghệ về quản lý đất đai và đào tạo nguồn nhân lực liên quan…

Như vậy, có thể thấy chuyến đi này của thủ tướng không chỉ là một chuyến công du bình thường mà còn là dịp để Việt Nam thúc đẩy hợp tác với các đối tác song phương, các tổ chức quốc tế và các đối tác đa phương khác, tìm kiếm cơ hội tiếp nhận hỗ trợ tài chính, công nghệ, tăng cường năng lực cho quốc gia.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers


Thứ Tư, 14 tháng 9, 2022

Quy định về Hợp đồng mua, bán nợ tại Việt Nam


Cùng với sự phát triển của các hoạt động kinh tế – xã hội, nợ đã trở thành một quyền về tài sản, vì vậy tính chuyển giao của nó cũng được thừa nhận. Pháp luật Việt Nam hiện nay cũng ghi nhận khoản nợ là một loại hàng hóa có thể giao dịch thông qua hợp đồng mua bán. Tuy nhiên, để hợp đồng mua, bán nợ có giá trị pháp lý và đảm bảo các quyền và nghĩa vụ được thực thi, các bên cần lưu ý các quy định về hợp đồng mua, bán nợ.

Thứ nhất, xét về quyền giao kết Hợp đồng mua bán nợ, theo quy định của Bộ luật Dân sự quy định về mua bán quyền tài sản có đề cập đến quyền tài sản là quyền đòi nợ ở Việt Nam[1]. Theo đó, nợ trở thành đối tượng của hợp đồng mà các bên có thể chuyển giao như đối với một loại tài sản đặc biệt. Ngoài ra, Hợp đồng mua, bán nợ nhằm mục đích chuyển quyền sở hữu đối với khoản nợ và đồng thời chuyển nghĩa vụ của bên bán nợ cho bên mua nợ. Đây là giao dịch hoàn toàn không ảnh hưởng đến quyền lợi của bên nợ. Do đó, các bên có thể giao kết Hợp đồng mua, bán nợ mà không cần có sự đồng ý của bên nợ[2].

Thứ hai, về mặt hình thức của Hợp đồng mua, bán nợ, căn cứ quy định mua, bán nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì mua, bán nợ là thỏa thuận bằng văn bản về việc chuyển giao quyền đòi nợ đối với khoản nợ phát sinh từ nghiệp vụ cho vay, khoản trả thay trong nghiệp vụ bảo lãnh, theo đó bên bán nợ chuyển giao quyền sở hữu khoản nợ cho bên mua nợ và nhận tiền thanh toán từ bên mua nợ[3]. Như vậy, Hợp đồng mua, bán nợ phải bắt buộc được lập thành văn bản.

Hơn nữa, Hợp đồng mua, bán nợ phải được ký bởi người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền của các bên mua, bán nợ[4]. Vì vậy, theo quy định này, Hợp đồng mua, bán nợ không bắt buộc các bên phải công chứng hoặc chứng thực. Do đó, nếu xét thấy cần thiết các bên có thể thỏa thuận với nhau về việc công chứng hoặc chứng thực Hợp đồng mua, bán nợ. Thêm vào đó, các bên có thể thỏa thuận có thể lập thêm Hợp đồng bằng tiếng nước ngoài và các bên cần thống nhất ngôn ngữ nào của Hợp đồng sẽ được chọn sử dụng khi xảy ra tranh chấp. Ngoài ra, đối với trường hợp bên mua nợ và bên bán nợ là tổ chức có tư cách pháp nhân thì ngoài việc đại diện hợp pháp để ký tên thì Hợp đồng cần được đóng dấu. Đây là những quy định nghiêm ngặt về hình thức xác lập để đảm bảo tính hợp pháp về hình thức của hợp đồng.

Thứ ba, về nội dung của Hợp đồng mua, bán nợ, Hợp đồng mua, bán nợ phải có những nội dung chủ yếu sau đây[5]: (i) Thời gian ký kết hợp đồng mua, bán nợ; (ii) Tên, địa chỉ của các bên tham gia ký kết hợp đồng mua, bán nợ; (iii) Tên, chức danh người đại diện các bên tham gia ký kết hợp đồng mua bán nợ; (iv) Tên, địa chỉ của bên nợ và các bên có liên quan (nếu có) tới khoản nợ được mua, bán; (v) Chi tiết khoản nợ mua, bán: Số tiền vay, thời gian vay, mục đích giá trị ghi sổ của khoản nợ đến thời điểm thực hiện mua, bán nợ; (vi)  Các biện pháp bảo đảm cho nghĩa vụ thanh toán của bên nợ đối khoản nợ được mua, bán (nếu có); (vii) Giá bán nợ, phương thức thanh toán, thời hạn thanh toán; (viii) Thời điểm, phương thức và thủ tục chuyển giao hồ sơ, chứng từ khoản nợ, bao gồm cả hồ sơ, tài liệu về tài sản bảo đảm của khoản nợ (nếu có); Thời điểm bên mua nợ trở thành người thế quyền, nghĩa vụ đối với khoản nợ của bên bán nợ; (ix) Quyền và nghĩa vụ của bên bán nợ, bên mua nợ; (x) Trách nhiệm của các bên do vi phạm hợp đồng; (xi) Giải quyết tranh chấp phát sinh. Đây là những nội dung cơ bản, bắt buộc phải có đối với Hợp đồng mua, bán nợ. Ngoài ra, các bên có thể thỏa thuận các nội dung khác[6] trong hợp đồng mua, bán nợ không trái với quy định pháp luật.

Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện Hợp đồng mua, bán nợ, pháp luật cho phép các bên thỏa thuận tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ nội dung của Hợp đồng mua, bán nợ. Tuy nhiên, việc quyết định sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ phải dựa trên cơ sở đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật.

Như vậy, việc xác lập Hợp đồng mua, bán nợ tại Việt Nam về cơ bản cũng giống như các giao dịch chuyển quyền tài sản khác. Tuy nhiên, nợ là đối tượng đặc biệt của quyền tài sản, do vậy các bên cần tìm hiểu và tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức của hợp đồng để đảm bảo tính pháp lý của hợp đồng cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers


Phạt vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại trong kinh doanh thương mại


Khi soạn thảo hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng kinh doanh thương mại, bên cạnh các quy định cơ bản như đối tượng, phạm vi của hợp đồng, giá trị và phương thức thanh toán, quyền và nghĩa vụ của các bên, cơ chế giải quyết tranh chấp, bảo mật thông tin,… thì các quy định về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cũng rất cần được chú trọng.

1. Phạt vi phạm hợp đồng

Theo quy định của Luật thương mại 2005, phạt vi phạm được hiểu là việc bên vi phạm hợp đồng phải trả một khoản tiền cho bên bị vi phạm do hành vi vi phạm của bên vi phạm nếu trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm. Như vậy, việc phạt vi phạm chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm và các bên đã có thỏa thuận về việc phạt vi phạm.

Luật trao quyền thỏa thuận chế tài phạt vi phạm cho các bên trong hợp đồng, tuy nhiên quyền tự do thương lượng này có giới hạn. Cụ thể là các bên chỉ được thỏa thuận mức phạt vi phạm tối đa là 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì mức tiền phạt phải trả cho khách hàng do các bên thỏa thuận, nhưng cũng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định. Trên thực tế, cơ quan giải quyết tranh chấp cũng căn cứ vào giới hạn quy định của luật để xử lý, do đó dù các bên có thỏa thuận một mức phạt vi phạm cao hơn cũng không áp dụng được trên thực tế.

2. Bồi thường thiệt hại

Bồi thường thiệt hại được hiểu là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất cho bên bị vi phạm do hành vi vi phạm hợp đồng của bên vi phạm gây ra. Căn cứ để phát sinh bồi thường thiệt hại là có hành vi vi phạm hợp đồng; có thiệt hại thực tế xảy ra và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại xảy ra. Nghĩa là khác với chế tài phạt vi phạm, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng phát sinh ngay cả trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về vấn đề này. Bên cạnh đó, pháp luật không đưa ra quy định nào giới hạn mức bồi thường thiệt hại mà chỉ hoàn toàn căn cứ vào thiệt hại thực tế phát sinh mà bên bị vi phạm chứng minh được.

Xuyên suốt quy định của Luật thương mại và các văn bản hướng dẫn đi kèm, không có quy định nào ràng buộc trong một hợp đồng thương mại nếu đã quy định phạt vi phạm thì không được áp dụng thêm chế định bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, trong trường hợp cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch nếu quy định cả hai loại chế tài trên trong nội dung hợp đồng thì nên quy định rõ căn cứ phát sinh khoản tiền bồi thường thiệt hại và khoản tiền phạt vi phạm.

Thực tiễn có rất nhiều trường hợp các bên không thỏa thuận rõ ràng hoặc thỏa thuận về khoản tiền phạt vi phạm mà số tiền phạt lại vượt quá mức quy định thì phần vượt quá đó cũng không có giá trị pháp lý như đã phân tích ở trên. Cuối cùng, các bên cần lưu ý rằng, sẽ không được thỏa thuận về lãi chậm thanh toán đối với khoản tiền phạt vi phạm và khoản tiền bồi thường thiệt hại. 


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers