ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

ANT Lawyers

Vietnam Law Firm with English Speaking Lawyers

Thứ Tư, 30 tháng 11, 2022

Các trường hợp không thuộc diện cấp giấy phép lao động kể từ năm 2021


Ngày 30 tháng 12 năm 2020, Chính phủ ban hành Nghị định 152/2020/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và tuyển dụng, quản lý người lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam. Trong đó, quy định người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam không thuộc diện cấp giấy phép lao động gồm:

Người lao động là chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn có giá trị góp vốn từ 3 tỷ đồng trở lên; Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần có giá trị góp vốn từ 3 tỷ đồng trở lên;

Người lao động di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp thuộc phạm vi 11 ngành dịch vụ trong biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới, bao gồm: kinh doanh, thông tin, xây dựng, phân phối, giáo dục, môi trường, tài chính, y tế, du lịch, văn hóa giải trí và vận tải;

Người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại;

Người lao động vào Việt Nam làm việc tại vị trí nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia hoặc lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và không quá 03 lần trong 01 năm;

Người lao động vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để thực hiện chào bán dịch vụ;

Người lao động vào Việt Nam với thời hạn dưới 03 tháng để xử lý sự cố, tình huống kỹ thuật, công nghệ phức tạp nảy sinh làm ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng tới sản xuất, kinh doanh mà các chuyên gia Việt Nam và các chuyên gia nước ngoài hiện đang ở Việt Nam không xử lý được;

Luật sư nước ngoài đã được cấp Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam theo quy định của Luật Luật sư; Người lao động được Bộ Ngoại giao cấp giấy phép hoạt động thông tin, báo chí tại Việt Nam theo quy định của pháp luật; Người được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác nhận người lao động nước ngoài vào Việt Nam để giảng dạy, nghiên cứu;

Người lao động vào Việt Nam để cung cấp dịch vụ tư vấn về chuyên môn và kỹ thuật hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác phục vụ cho công tác nghiên cứu, xây dựng, thẩm định, theo dõi đánh giá, quản lý và thực hiện chương trình, dự án sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) theo quy định hay thỏa thuận trong các điều ước quốc tế về ODA đã ký kết giữa cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và nước ngoài;

Người lao động được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cử sang Việt Nam giảng dạy, nghiên cứu tại trường quốc tế thuộc quản lý của cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài hoặc Liên hợp quốc; các cơ sở, tổ chức được thành lập theo các hiệp định mà Việt Nam đã ký kết, tham gia;

Người lao động vào Việt Nam thực hiện thỏa thuận quốc tế mà cơ quan, tổ chức ở Trung ương, cấp tỉnh ký kết theo quy định của pháp luật;

Người có hộ chiếu công vụ vào làm việc cho cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

Thân nhân thành viên cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam;

Trường hợp theo quy định của điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

Trưởng văn phòng đại diện, dự án hoặc chịu trách nhiệm chính về hoạt động của tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam;

Người lao động là tình nguyện viên;

Học sinh, sinh viên đang học tập tại các trường, cơ sở đào tạo ở nước ngoài có thỏa thuận thực tập trong các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam; học viên thực tập, tập sự trên tàu biển Việt Nam;

Người lao động là người nước ngoài kết hôn với người Việt Nam và sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.

So với quy định tại Nghị định 11/2016/NĐ-CP, bổ sung thêm trường hợp người chịu trách nhiệm thành lập hiện diện thương mại không thuộc trường hợp cấp giấy phép lao động. Bên cạnh đó, chỉ chủ sở hữu hoặc thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn; Chủ tịch Hội đồng quản trị hoặc thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần phải có giá trị góp vốn từ 3 tỷ đồng trở lên được xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động.

Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2021.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Nhiều doanh nghiệp có dấu hiệu lừa đảo doanh nghiệp Việt


Hiện nay, Việt Nam đã thực hiện ký kết nhiều Hiệp định thương mại tự do với nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới, điều này giúp việc giao lưu kinh tế quốc tế trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, việc mở rộng thương mại quốc tế cũng khiến nhiều doanh nghiệp gặp rủi ro khi gặp những khách hàng gian lận trong kinh doanh.

Theo thông tin của Bộ Công Thương, trong năm 2020, Thương vụ, Đại sứ quán Việt Nam tại mọt số nước liên tục nhận đươc lời mời chào bán, mua hàng, ký kết hợp đồng giao dịch thương mại có dấu hiệu lừa đảo, gian lận, lừa đảo từ một số doanh nghiệp có trụ sở tại nước ngoài.

Mặc dù đã có nhiều cảnh báo, lưu ý, tuy nhiên do tâm lý chủ quan, lợi nhuận cao, nghiệp vụ ngoại thương hạn chế, không tìm hiểu kỹ khách hàng, khó khăn do dịch bệnh nên nhiều doanh nghiệp không thể trực tiếp gặp, kiểm tra hàng hóa,… chuyển hướng qua giao dịch online, điều này đã khiến các doanh nghiệp lợi dụng thực hiện hành vi lừa đảo đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Một số hình thức gian lận thương mại như: Giao hàng không trả tiền; Làm giả giấy tờ, thậm chí là giấy tờ ngân hàng để lấy hàng, cài người lấy chứng từ xuất khẩu; Sử dụng hacker xâm nhập địa chỉ email của 02 bên doanh nghiệp đang có giao dịch, theo dõi tiến trình đàm phàn. Khi bên mua chuẩn bị chuyển tiền mua hàng hóa thì hack hòm thư email (hoặc tạo 1 tài khoản email có địa chỉ gần giống tuyệt đối với email của bên bán) để gửi thông tin tài khoản lừa đảo. Sau khi bên mua chuyển tiền vào tài khoản lừa đảo, đối tượng sẽ ngay lập tức rút tiền và biến mất; Lợi dụng sự bất cẩn, thiếu chuyên nghiệp của các doanh nghiệp trong nước như không yêu cầu tổ chức giám định có uy tín kiểm tra hàng trước khi giao hàng, không thẩm định các thông tin về doanh nghiệp đối tác, không có người của phía Việt Nam sang để làm việc… để chuyển hàng không giá trị, không đúng hợp đồng, hoặc thông báo hàng hỏng, kém chất lượng để ép giá, trừ nợ hoặc đòi bồi thường…

Một số dấu hiệu nhận biết lừa đảo các doanh nghiệp cần lưu ý như: Việc đàm phán giá cả, hợp đồng diễn ra dễ dàng, nhanh chóng, ít đàm phán mặc cả, chấp nhận giá cao; Bắt đặt cọc để nhận khoản tiền đầu tư; Không cung cấp hoặc các giấy tờ cung cấp của nhiều pháp nhân khác nhau; Mở L/C tại ngân hàng không uy tín của nước thứ 3; Giấy phép kinh doanh sắp hết hạn…

Để tránh làm việc với các doanh nghiệp lừa đảo, các doanh nghiệp trong nước cần nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật của mình, cần tìm hiểu kỹ đối tác trước khi thực hiện giao dịch nhất là đối tác mới giao dịch lần đầu.

Giá cả các loại hàng hóa hiện nay đều được cập nhật rõ ràng qua thông tin thị trường hoặc trên các trang web hàng hóa quốc tế. Vì vậy, khi có đơn hỏi hàng hóa trả giá quá cao, hoặc quá thấp so với mặt bằng, doanh nghiệp cần hết sức lưu ý và kiểm tra kỹ độ tin cậy.

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Nguồn: ANT Lawyers


Thứ Ba, 29 tháng 11, 2022

Quy trình khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập trong cưỡng chế tiền thuế nợ

Nguồn: Rong Viet Tafs

Ngày 11/11/2022, Tổng cục Thuế ban hành Quyết định 1795/QĐ-TCT về việc ban hành Quy trình cưỡng chế tiền thuế nợ.

1. Quy trình khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập trong cưỡng chế tiền thuế nợ

Theo Quy trình cưỡng chế tiền thuế nợ được ban hành kèm theo Quyết định 1795/QĐ-TCT thì việc cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập như sau:

1.1. Lập danh sách người nộp thuế (NNT) chuẩn bị cưỡng chế

- Cơ sở để lập danh sách NNT chuẩn bị cưỡng chế:

NNT là cá nhân có tiền thuế nợ được hưởng tiền lương, tiền công, thu nhập từ cơ quan, tổ chức mà cá nhân thuộc biên chế hoặc cơ quan, tổ chức mà cá nhân ký hợp đồng lao động có thời hạn từ 6 tháng trở lên hoặc cơ quan, tổ chức chi trả trợ cấp hưu trí, mất sức thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Cá nhân không mở tài khoản tại Kho bạc nhà nước (KBNN), Ngân hàng thương mại (NHTM), tổ chức tín dụng (TCTD) khác hoặc cơ quan thuế đã gửi văn bản xác minh thông tin về tài khoản nhưng NNT bị cưỡng chế, KBNN, NHTM, TCTD khác không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ thông tin.

+ Cá nhân có mở tài khoản tại KBNN, NHTM, TCTD khác, cơ quan thuế đã ban hành quyết định cưỡng chế (QĐCC) trích tiền từ tài khoản nhưng đến ngày lập danh sách số tiền thuế nợ bị cưỡng chế chưa được nộp đủ vào ngân sách nhà nước (NSNN).

+ Cá nhân đang bị cơ quan thuế áp dụng một trong các biện pháp cưỡng chế sau đây:

++ Ngừng sử dụng hóa đơn;

++ Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên;

++ Thu tiền, tài sản khác do cơ quan, tổ chức, cá nhân khác đang giữ;

++ Hoặc NNT đang trong thời gian bị cơ quan thuế có văn bản đề nghị cơ quan đăng ký kinh doanh thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng cơ quan đăng ký kinh doanh chưa ban hành quyết định thu hồi.

+ Cá nhân có tiền thuế nợ, có hành vi phát tán tài sản hoặc bỏ trốn.

- Lập danh sách:

Hằng tháng, công chức thực hiện rà soát cơ sở dữ liệu (CSDL) của cơ quan thuế và các văn bản, tài liệu do các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp để cập nhật vào danh sách NNT chuẩn bị cưỡng chế bằng biện pháp khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập (mẫu số 02-1/DS-TL ban hành kèm theo quy trình này).

Căn cứ danh sách NNT chuẩn bị cưỡng chế (mẫu số 02-1/DS-TL), bộ phận cưỡng chế nợ thuế có thể phối hợp với bộ phận thanh tra – kiểm tra, bộ phận quản lý các khoản thu về đất và các bộ phận có liên quan để rà soát, xác định chính xác số tiền thuế nợ của NNT.

1.2. Thu thập và xác minh thông tin của NNT chuẩn bị cưỡng chế

- Các thông tin cần thu thập, xác minh:

+ Tên, mã số thuế, địa chỉ của cơ quan, tổ chức chi trả.

+ Tên, mã số thuế, tiền lương, thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế.

- Các hình thức thu thập, xác minh thông tin:

+ Công chức thực hiện khai thác trên cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế và cập nhật vào danh sách NNT chuẩn bị cưỡng chế (mẫu số 02-1/DS-TL).

+ Đối với các trường hợp thông tin chưa đầy đủ:

++ Đề nghị các bộ phận kê khai và kế toán thuế, thanh tra kiểm tra và các bộ phận liên quan cung cấp (nếu cần thiết).

++ Gửi văn bản yêu cầu NNT bị cưỡng chế, tổ chức chi trả cung cấp thông tin theo mẫu số 02/XM-TL ban hành kèm theo quy trình này.

Trong ngày nhận được thông tin cung cấp từ các tổ chức, cá nhân, công chức phải cập nhật thông tin vào danh sách NNT chuẩn bị cưỡng chế (mẫu số 02-1/DS-TL).

1.3. Lập danh sách NNT phải cưỡng chế

- Trên cơ sở danh sách NNT chuẩn bị cưỡng chế (mẫu 02-1/DS-TL) và các thông tin đã thu thập, xác minh, công chức lập danh sách NNT phải áp dụng biện pháp cưỡng chế khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập (mẫu số 02-2/DS-TL ban hành kèm theo quy trình này).

- Trường hợp sau thời hạn yêu cầu cung cấp thông tin, nếu cá nhân thuộc đối tượng bị cưỡng chế nợ thuế, tổ chức chi trả không cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tin không đầy đủ thì công chức thực hiện biện pháp cưỡng chế khác phù hợp.

Trường hợp cơ quan, tổ chức quản lý tiền lương, thu nhập của NNT bị cưỡng chế có thông báo về việc chưa khấu trừ đủ số tiền thuế theo quyết định cưỡng chế nhưng hợp đồng lao động của NNT bị cưỡng chế đã chấm dứt thì công chức dự thảo tờ trình và hồ sơ kèm theo trình lãnh đạo đơn vị chuyển sang biện pháp khác phù hợp theo quy định.

1.4. Ban hành quyết định cưỡng chế

- Căn cứ vào danh sách NNT phải cưỡng chế (mẫu số 02-2/DS-TL), công chức thực hiện:

+ Dự thảo QĐCC (mẫu số 02/CC tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định 126/2020/NĐ-CP), kèm theo các hồ sơ:

++ Tờ trình về việc áp dụng biện pháp cưỡng chế, nêu rõ diễn biến quá trình đôn đốc và áp dụng các biện pháp CCNT;

++ Thông báo tiền thuế nợ (mẫu số 01/TTN ban hành kèm theo Thông tư 80/2021/TT-BTC) tại thời điểm gần nhất hoặc các quyết định hành chính thuế khác;

++ Văn bản xác minh thông tin (nếu có);

++ Văn bản cung cấp thông tin từ cơ quan chi trả, cá nhân bị cưỡng chế (nếu có);

++ Tài liệu chứng minh NNT có hành vi phát tán tài sản hoặc bỏ trốn (nếu có);

++ Quyết định cưỡng chế đã ban hành (nếu có);

++ Văn bản, tài liệu khác có liên quan (nếu có).

+ Báo cáo lãnh đạo phòng/đội trình Thủ trưởng cơ quan thuế để ký, ban hành QĐCC.

- Sau khi nhận được dự thảo QĐCC kèm theo hồ sơ đầy đủ, Thủ trưởng cơ quan thuế ký và ban hành QĐCC đảm bảo đúng thời điểm theo quy định:

+ Ngay sau ngày hết thời hiệu của quyết định cưỡng chế trích tiền từ tài khoản, phong tỏa tài khoản của cá nhân bị cưỡng chế.

+ Ngay sau ngày có thông tin, điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế này hoặc đồng thời áp dụng biện pháp cưỡng chế này.

1.5. Gửi và công khai quyết định cưỡng chế

- Quyết định cưỡng chế được gửi cho cá nhân bị cưỡng chế; cơ quan, tổ chức chi trả tiền lương hoặc thu nhập của cá nhân bị cưỡng chế; các cơ quan, tổ chức có liên quan ngay trong ngày ban hành quyết định cưỡng chế.

Hình thức gửi thực hiện theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 32 Nghị định 126/2020/NĐ-CP.

- Cơ quan thuế có trách nhiệm đăng tải thông tin về NNT bị cưỡng chế lên trang thông tin điện tử ngành thuế như sau:

+ Trường hợp thực hiện ký điện tử QĐCC thì hệ thống ứng dụng quản lý thuế tự động công khai các thông tin theo mẫu số 01/CKCC ban hành kèm theo quy trình này.

+ Trường hợp không thực hiện ký điện tử QĐCC, công chức thực hiện nhập thông tin trên QĐCC vào hệ thống ứng dụng quản lý thuế để công khai.

1.7. Tổ chức thực hiện

Trong thời gian QĐCC có hiệu lực, công chức thực hiện theo dõi việc thi hành QĐCC, cụ thể như sau:

- Ngay trong ngày làm việc nhận được thông tin về việc NNT bị cưỡng chế hoặc tổ chức chi trả đã nộp đủ số tiền thuế nợ ghi trên QĐCC;

Hoặc số tiền thuế nợ bị cưỡng chế được cơ quan thuế ban hành quyết định nộp dần tiền thuế nợ hoặc quyết định gia hạn nộp thuế hoặc quyết định miễn tiền chậm nộp tiền thuế hoặc thông báo không tính tiền chậm nộp thì:

Công chức dự thảo tờ trình kèm toàn bộ hồ sơ báo cáo lãnh đạo phòng/đội trình Thủ trưởng cơ quan thuế ban hành quyết định chấm dứt hiệu lực của quyết định cưỡng chế (mẫu số 08/CC tại Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị định 126/2020/NĐ- CP) gửi cho NNT, tổ chức chi trả để chấm dứt thực hiện cưỡng chế.

Khi NNT đã nộp hết số tiền thuế nợ bị cưỡng chế vào NSNN, trường hợp ứng dụng quản lý thuế chưa cập nhật kịp thời số tiền đã nộp của NNT thì cơ quan thuế căn cứ vào một trong các chứng từ sau để chấm dứt hiệu lực của QĐCC:

Chứng từ nộp có xác nhận của KBNN, TCTD hoặc tổ chức được phép ủy nhiệm thu thuế; Chứng từ điện tử nộp trên cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế.

- Trường hợp QĐCC hết hiệu lực mà số tiền thuế nợ bị cưỡng chế chưa được nộp đủ vào NSNN thì công chức thực hiện biện pháp cưỡng chế khác phù hợp.

2. Một số biện pháp cưỡng chế tiền thuế nợ khác

Tại Quy trình cưỡng chế tiền thuế nợ được ban hành kèm theo Quyết định 1795/QĐ-TCT ngày 11/11/2022 còn quy định về một số biện pháp cưỡng chế tiền thuế nợ khác như sau:

- Biện pháp trích tiền từ tài khoản, yêu cầu phong tỏa tài khoản của NNT mở tại KBNN, NHTM, TCTD khác;

- Biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu;

- Biện pháp ngừng sử dụng hóa đơn;

- Biện pháp kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên;

- Biện pháp thu tiền, tài sản khác của NNT bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang giữ;

- Biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Nguồn: Thư Viện Pháp Luật


Thứ Hai, 28 tháng 11, 2022

Tổng hợp các trường hợp không được chuyển nhượng đất


1. Không đáp ứng đủ điều kiện chuyển nhượng đất

Căn cứ Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy định về điều kiện chuyển nhượng đất như sau:

- Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

+ Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 Luật Đất đai 2013;

+ Đất không có tranh chấp;

+ Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

+ Trong thời hạn sử dụng đất.

- Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất;

Quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 Luật Đất đai 2013.

- Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

2. Thuộc trường hợp không được chuyển nhượng đất

Căn cứ Điều 191 Luật Đất đai 2013 quy định về trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất như sau:

(1) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất.

(2) Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

(3) Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.

(5) Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, nếu không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó.

3.  Không đáp ứng điều kiện chuyển nhượng đối với hộ gia đình, cá nhân

Tại Điều 192 Luật Đất đai 2013 quy định về trường hợp hộ gia đình, cá nhân chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện như sau:

- Hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống xen kẽ trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng nhưng chưa có điều kiện chuyển ra khỏi phân khu đó thì:

Chỉ được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất rừng kết hợp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản cho hộ gia đình, cá nhân sinh sống trong phân khu đó.

- Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ thì:

Chỉ được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ đó.

- Hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số sử dụng đất do Nhà nước giao đất theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước thì:

Được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất sau 10 năm, kể từ ngày có quyết định giao đất theo quy định của Chính phủ.

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Nguồn: Thư Viện Pháp Luật


Thứ Năm, 24 tháng 11, 2022

Thí điểm sử dụng Mobile Money để thanh toán


Với sự phát triển của ngành công nghệ thông tin, xã hội có xu hướng ngày càng đơn giản hóa quy trình, thủ tục thực hiện các giao dịch khiến nó trở nên dễ dàng, nhanh chóng và tiện lợi hơn.

Nhằm phát triển hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, tăng cường việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính, đặc biệt tại khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo của Việt Nam cũng như tận dụng hạ tầng, dữ liệu, mạng lưới viễn thông, giảm các chi phí xã hội để phát triển, mở rộng kênh thanh toán không dùng tiền mặt trên thiết bị di động, mang lại tiện ích cho người sử dụng, ngày 09 tháng 03 năm 2021, Thủ tướng Chính Phủ đã ban hành Quyết định số 316/QĐ-TTg về việc phê duyệt triển khai thí điểm dùng tài khoản viễn thông thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ có giá trị nhỏ (Mobile-Money).

Đối tượng thực hiện thí điểm là các doanh nghiệp có Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán Ví điện tử và Giấy phép thiết lập mạng viễn thông công cộng di động mặt đất sử dụng băng tần số vô tuyến điện hoặc là công ty con được Công ty mẹ có Giấy phép thiết lập mạng viễn thông công cộng di động mặt đất sử dụng băng tần số vô tuyến điện cho phép sử dụng hạ tầng, mạng lưới, dữ liệu viễn thông.

Khách hàng cá nhân đăng ký và sử dụng dịch vụ Mobile-Money phải cung cấp Chứng minh nhân dân (CMND)/Căn cước công dân (CCCD)/Hộ chiếu trùng với thông tin đăng ký số thuê bao di động của khách hàng và được Doanh nghiệp thực hiện thí điểm định danh, xác thực theo các quy định của Chính phủ về đăng ký thuê bao di động; và số thuê bao di động phải có thời gian kích hoạt và sử dụng liên tục trong ít nhất 3 tháng liền kề tính đến thời điểm đăng ký mở và sử dụng dịch vụ Mobile-Money. Mỗi khách hàng chỉ được mở 01 tài khoản Mobile-Money tại mỗi Doanh nghiệp thực hiện thí điểm.

Việc triển khai thí điểm áp dụng trên phạm vi toàn quốc, trong đó Doanh nghiệp thực hiện thí điểm phải ưu tiên triển khai thí điểm dịch vụ Mobile- Money tại các địa bàn thuộc khu vực nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo của Việt Nam.

Doanh nghiệp thực hiện thí điểm chỉ được phép cung ứng dịch vụ Mobile-Money để chuyển tiền, thanh toán cho các hàng hóa, dịch vụ hợp pháp tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành phục vụ cho nhu cầu cuộc sống người dân; việc triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money chỉ áp dụng đối với giao dịch nội địa hợp pháp theo quy định pháp luật Việt Nam bằng đồng Việt Nam, không được thực hiện thanh toán/chuyển tiền cho các hàng hóa, dịch vụ cung cấp xuyên biên giới.

Thời gian thực hiện thí điểm được quy định là 02 năm kể từ thời điểm Doanh nghiệp đầu tiên thực hiện thí điểm được chấp thuận triển khai thí điểm dịch vụ Mobile-Money. Hạn mức giao dịch không quá 10 triệu đồng/tháng/tài khoản Mobile- Money cho tổng các giao dịch: rút tiền, chuyển tiền và thanh toán.

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Nguồn: ANT Lawyers


Thứ Tư, 23 tháng 11, 2022

Chống bán phá giá vật liệu hàn từ Trung Quốc, Thái Lan và Ma-lai-xi-a (AD15)


Ngày 21 tháng 01 năm 2021, Cục Phòng vệ thương mại (Cơ quan điều tra) tiếp nhận Hồ sơ của công ty là đại diện cho ngành sản xuất trong nước (Bên yêu cầu), yêu cầu điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá đối với một số chủng loại vật liệu hàn có xuất xứ từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Vương quốc Thái Lan và Ma-lai-xi-a.

Ngày 01 tháng 02 năm 2021, Cơ quan điều tra xác nhận hồ sơ đã đầy đủ, hợp lệ theo quy định của pháp luật về phòng vệ thương mại. Trong thời hạn 45 ngày, tính từ ngày xác nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Cơ quan điều tra sẽ thẩm định hồ sơ để trình Bộ trưởng Bộ Công Thương xem xét tiến hành điều tra hoặc không tiến hành điều tra vụ việc. Nội dung thẩm định Hồ sơ bao gồm: (i) Xác định tư cách đại diện hợp pháp của ngành sản xuất trong nước của tổ chức, cá nhân nộp hồ sơ theo quy định của Luật Quản lý ngoại thương; (ii) Xác định chứng cứ về việc bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước hoặc ngăn cản đáng kể sự hình thành ngành sản xuất trong nước.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, Bộ Công Thương ban hành Quyết định số 947/QĐ-BCT về việc tiến hành điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá (CBPG) đối với một số sản phẩm vật liệu hàn thuộc các mã HS: 7217.10.10; 7217.30.19; 7217.90.10; 7229.20.00; 7229.90.20; 7229.90.99; 8311.10.10; 8311.10.90; 8311.30.91; 8311.30.99; 8311.90.00 có xuất xứ từ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc), Vương quốc Thái Lan (Thái Lan) và Ma-lai-xi-a (hàng hóa bị điều tra) (mã vụ việc AD15).

Các bước tiếp theo:

Theo quy định pháp luật, sau khi khởi xướng điều tra, Bộ Công Thương sẽ gửi bản câu hỏi điều tra cho các bên liên quan để thu thập thông tin nhằm phân tích, đánh giá các nội dung cáo buộc gồm: (i) hành vi bán phá giá của các doanh nghiệp xuất khẩu của Trung Quốc, Thái Lan và Ma-lai-xi-a; (ii) thiệt hại của ngành sản xuất một số sản phẩm của Việt Nam; và (iii) mối quan hệ nhân quả giữa hành vi bán phá giá và thiệt hại của ngành sản xuất một số sản phẩm trong nước.

Trong trường hợp cần thiết, căn cứ vào kết quả điều tra sơ bộ, Bộ Công Thương có thể áp dụng biện pháp chống bán phá giá tạm thời để ngăn chặn hành vi bán phá giá tiếp tục gây ra thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất trong nước.

Bộ Công Thương sẽ thực hiện việc thẩm tra, xác minh lại các thông tin do các bên liên quan cung cấp trước khi hoàn thành kết luận điều tra chính thức về vụ việc. Đồng thời, Bộ Công Thương cũng sẽ tổ chức tham vấn công khai để các bên liên quan trực tiếp trao đổi, cung cấp thông tin, bày tỏ quan điểm về vụ việc trước khi đưa ra kết luận cuối cùng về vụ việc.

Bộ Công Thương khuyến nghị tất cả các tổ chức, cá nhân đang xuất nhập khẩu, phân phối, kinh doanh, sử dụng hàng hóa bị điều tra đăng ký làm bên liên quan và cung cấp các thông tin cần thiết tới Bộ Công Thương để đảm bảo quyền và lợi ích của mình theo quy định của pháp luật.

Bộ Công Thương có thể áp dụng thuế chống bán phá giá có hiệu lực trở về trước đối với hàng hóa bị áp thuế trong thời hạn 90 ngày trước khi áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời. Vì vậy, Bộ Công Thương khuyến cáo các tổ chức, cá nhân trong quá trình ký kết hợp đồng nhập khẩu, phân phối, kinh doanh, sử dụng hàng hóa bị điều tra cần lưu ý về khả năng áp dụng thuế chống bán phá giá tạm thời và thuế chống bán phá giá có hiệu lực trở về trước.

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Nguồn: ANT Lawyers

Khu kinh tế là gì? Điều kiện thành lập khu kinh tế

Nguồn: Thông tin dự án

1. Khu kinh tế là gì?

Theo khoản 13 Điều 2 Nghị định 35/2022/NĐ-CP, khu kinh tế là khu vực có ranh giới địa lý xác định, gồm nhiều khu chức năng, được thành lập để thực hiện các mục tiêu thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ quốc phòng, an ninh.

Cụ thể, khu kinh tế bao gồm:

- Khu kinh tế ven biển là khu kinh tế được thành lập ở khu vực ven biển và địa bàn lân cận khu vực ven biển.

- Khu kinh tế cửa khẩu là khu kinh tế được thành lập ở khu vực biên giới đất liền và địa bàn lân cận khu vực biên giới đất liền.

- Khu kinh tế chuyên biệt là khu kinh tế được thành lập ở vùng kinh tế trọng điểm, hành lang phát triển, khu vực động lực phát triển hoặc khu vực có vai trò tương tự được xác định trong quy hoạch vùng.

(Khoản 14, 15 và 16 Điều 2 Nghị định 35/2022/NĐ-CP)

2. Điều kiện thành lập khu kinh tế

Khu kinh tế được thành lập nếu đáp ứng các điều kiện được quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định 35/2022/NĐ-CP, cụ thể như sau:

- Phù hợp với quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh; có trong Danh mục các khu kinh tế trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

- Có khả năng huy động các nguồn lực để đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của khu kinh tế và phát triển sản xuất, kinh doanh;

- Có hiệu quả kinh tế - xã hội;

- Đáp ứng điều kiện bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường;

- Bảo đảm quốc phòng, an ninh.

3. Hồ sơ thành lập khu kinh tế

Cụ thể tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 35/2022/NĐ-CP, đề án thành lập khu kinh tế của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm các nội dung sau đây:

- Căn cứ pháp lý và sự cần thiết của việc thành lập khu kinh tế;

- Đánh giá hiện trạng, các yếu tố và điều kiện về vị trí địa lý, tự nhiên, tài nguyên, kinh tế - xã hội, các hạn chế và lợi thế so sánh của khu vực dự kiến thành lập khu kinh tế so với các khu vực khác trên địa bàn cả nước;

- Đánh giá và giải trình khả năng đáp ứng các điều kiện thành lập khu kinh tế quy định tại mục 2 (kèm theo các tài liệu có liên quan);

- Dự kiến phương hướng phát triển của khu kinh tế gồm: mục tiêu phát triển, quy mô diện tích, tính chất, chức năng của khu kinh tế; phương hướng phát triển các ngành, lĩnh vực; định hướng phát triển không gian, các khu chức năng trong khu kinh tế; kế hoạch, lộ trình đầu tư xây dựng và phát triển khu kinh tế;

- Kiến nghị các giải pháp và tổ chức thực hiện;

- Thể hiện phương án thành lập khu kinh tế trên bản đồ tỷ lệ 1:10.000 - 1:25.000.

4. Chính sách ưu đãi đầu tư đối với khu kinh tế

(1) Khu kinh tế là địa bàn ưu đãi đầu tư, được hưởng ưu đãi đầu tư áp dụng đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật về đầu tư.

Ưu đãi đầu tư đối với địa bàn khu kinh tế quy định tại pháp luật về đầu tư được áp dụng kể từ thời điểm khu kinh tế được thành lập.

(2) Mức ưu đãi cụ thể đối với dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu chức năng trong khu kinh tế và dự án đầu tư trong khu kinh tế được áp dụng theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về đất đai, pháp luật về tín dụng, pháp luật về kế toán và quy định khác của pháp luật có liên quan.

(3) Chi phí đầu tư xây dựng, vận hành hoặc mua, thuê mua, thuê nhà ở, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động làm việc trong khu kinh tế, công trình hạ tầng kỹ thuật kết nối với khu chức năng của nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu chức năng trong khu kinh tế, nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư trong khu kinh tế là khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.

(4) Dự án đầu tư xây dựng nhà ở, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động làm việc trong khu kinh tế được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật về xây dựng nhà ở xã hội và quy định khác của pháp luật có liên quan.

(5)  Nhà đầu tư có dự án đầu tư trong khu kinh tế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền hỗ trợ thực hiện các thủ tục hành chính về đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, xây dựng, môi trường, lao động, thương mại theo cơ chế “một cửa, tại chỗ”, hỗ trợ về tuyển dụng lao động và các vấn đề có liên quan khác trong quá trình triển khai thực hiện dự án.

(Điều 22 Nghị định 35/2022/NĐ-CP)

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Nguồn: ANT Lawyers


Thứ Ba, 22 tháng 11, 2022

Đà Nẵng – Boras (Thụy Điển) hợp tác trên lĩnh vực Giáo dục khoa học


Chiều 15-1, UBND thành phố Đà Nẵng phối hợp với chính quyền thành phố Boras (Thụy Điển) tổ chức Hội thảo trực tuyến về các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Liên hợp quốc, trong khuôn khổ dự án “Giáo dục khoa học vì sự phát triển bền vững tại Đà Nẵng” hợp tác giữa Đà Nẵng và Boras.

Dựa trên các mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030 của Liên hợp quốc, trong đó có mục tiêu phát triển giáo dục, môi trường, khoa học công nghệ là những mục tiêu Đà Nẵng quan tâm và phát triển. Thành phố mong muốn đảm bảo giáo dục chất lượng, rộng mở và công bằng và nâng cao cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người, đảm bảo sự sẵn có và quản lý bền vững nguồn nước và cải thiện các điều kiện vệ sinh cho tất cả mọi người, xây dựng cơ sở hạ tầng vững chắc, đẩy mạnh công nghiệp hóa rộng mở và bền vững, khuyến khích đổi mới; có biện pháp khẩn cấp để chống lại biến đổi khí hậu và các tác động của nó, bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, biển và các nguồn tài nguyên biển cho phát triển bền vững, bảo vệ, tái tạo và khuyến khích sử dụng bền vững các hệ sinh thái trên cạn, quản lý tài nguyên rừng bền vững, chống sa mạc hóa, chống xói mòn đất và mất đa dạng sinh học.

Đối với thành phố Boras-Thụy Điển, với mục tiêu phát triển bền vững, thành phố Boras tập trung thực hiện một số nội dung như: hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách; tăng cường thông tin, truyền thông, phát huy vai trò và sự tham gia của các bên liên quan, bố trí, huy động và tăng cường nguồn lực tài chính, tăng cường hợp tác quốc tế.

Đà Nẵng mong muốn dự án Giáo dục khoa học vì sự phát triển bền vững tại Đà Nẵng, được hợp tác giữa Đà Nẵng và Boras sẽ có những hoạt động cụ thể, góp phần nâng cao năng lực giáo dục khoa học, thúc đẩy đổi mới sáng tạo gắn với các mục tiêu phát triển bền vững tại thành phố.

Đà Nẵng và Boras đã thực hiện hợp tác từ nhiều năm nay, với nhiều chính sách thu hút, hỗ trợ các nhà đầu tư Thụy Điển, hiện nay đã có nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp Thụy Điển lựa chọn Đà Nẵng là điểm đến đầu tư tại Việt Nam, thành lập công ty, nhà máy, xin giấy phép đầu tư. Trong thời gian tới, Đà Nẵng-Boras mong muốn sẽ có nhiều nhà đầu tư từ Thụy Điển thực hiện đầu tư tại thành phố trong các dự án xử lý nước thải, chất thải rắn để tăng cường hơn nữa hợp tác đầu tư, giáo dục, khoa học giữa hai thành phố.

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Nguồn: ANT Lawyers

Thứ Hai, 21 tháng 11, 2022

Mẫu đơn đăng ký doanh nghiệp tư nhân mới nhất và cách ghi

Nguồn: ANT Lawyers

1. Thế nào là doanh nghiệp tư nhân?

Theo khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào và không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh.

(Khoản 2, 3 và 4 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020)

2. Mẫu giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp tư nhân mới nhất và cách ghi

Mẫu đơn đăng ký doanh nghiệp tư nhân được thực hiện theo mẫu tại Phụ lục I-1 (ban hành kèm theo Thông tư 01/2021/TT-BKHĐT)

* Hướng dẫn cách ghi mẫu đơn đăng ký doanh nghiệp tư nhân

(1) Trường hợp Tòa án hoặc Trọng tài chỉ định người thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì người được chỉ định kê khai thông tin vào phần này.

(2), (3) Trường hợp đăng ký thành lập doanh nghiệp tư nhân trên cơ sở chuyển đổi từ hộ kinh doanh/cơ sở bảo trợ xã hội/quỹ xã hội/quỹ từ thiện qua mạng thông tin điện tử thì:

Người nộp hồ sơ scan Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh/Giấy chứng nhận đăng ký thành lập (đối với cơ sở bảo trợ xã hội)/Giấy phép thành lập và công nhận điều lệ quỹ (đối với quỹ xã hội/quỹ từ thiện) trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử

Sau đó, nộp trực tiếp bản chính Giấy này tới Phòng Đăng ký kinh doanh để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo quy định tại Điều 27 và Điều 28 Nghị định 01/2021/NĐ-CP.

(4) Trường hợp doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp sau ngày bắt đầu hoạt động đã kê khai thì ngày bắt đầu hoạt động là ngày doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

(5) Trường hợp niên độ kế toán theo năm dương lịch thì ghi từ ngày 01/01 đến ngày 31/12.

- Trường hợp niên độ kế toán theo năm tài chính khác năm dương lịch thì ghi ngày, tháng bắt đầu niên độ kế toán là ngày đầu tiên của quỹ; ngày; tháng kết thúc niên độ kế toán là ngày cuối cùng của quý.

- Tổng thời gian từ ngày bắt đầu đến ngày kết thúc niên độ kế toán phải đủ 12 tháng hoặc 4 quý liên tiếp.

(6) Chỉ kê khai trong trường hợp thành lập mới. Doanh nghiệp căn cứ vào quy định của pháp luật về thuế giá trị gia tăng và dự kiến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để xác định 01 trong 04 phương pháp tính thuế giá trị gia tăng tại chỉ tiêu này.

(7) Doanh nghiệp có trách nhiệm đảm bảo các điều kiện về việc sử dụng hóa đơn tự in, đặt in, hóa đơn điện tử, mua hóa đơn của cơ quan thuế theo quy định của pháp luật. Không kê khai trong trường hợp thành lập doanh nghiệp trên cơ sở chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.

(8) Không kê khai trong trường hợp thành lập doanh nghiệp trên cơ sở chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.

(9) Không kê khai trong trường hợp thành lập doanh nghiệp trên cơ sở chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.

(10) Chủ doanh nghiệp tư nhân ký trực tiếp vào phần này.

Trường hợp Tòa án hoặc Trọng tài chỉ định người thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp thì người được chỉ định ký trực tiếp vào phần này.

3. Quyền của chủ doanh nghiệp tư nhân

- Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

- Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc để quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh; trường hợp này, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân.

- Chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

(Điều 190 Luật Doanh nghiệp 2020)

Nguồn: Thư Viện Pháp Luật


Thứ Năm, 17 tháng 11, 2022

Quyền phân phối dược phẩm tại Việt Nam đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài


Hiện nay, với những diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng, việc nghiên cứu, sản xuất, nhập khẩu vaccine phòng chống Covid-19 là điều mà tất cả mọi người quan tâm. Ngày 24/02/2021, lô vaccine đầu tiên được phê duyệt nhập khẩu đã được vận chuyển về Việt Nam bởi công ty cổ phần Vaccine Việt Nam.

Trước tình hình đó, một số doanh nghiệp nước ngoài đã bày tỏ ý kiến về những hạn chế đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối thuốc tại Việt Nam. Việt Nam đã bảo lưu không cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối thuốc và cũng chưa cam kết mở cửa thị trường dịch vụ phân phối thuốc trong bất cứ khuôn khổ hiệp định thương mại hoặc điều ước quốc tế nào tính đến thời điểm hiện tại, vì lĩnh vực dược là lĩnh vực nhạy cảm, trực tiếp liên quan đến tiếp cận thuốc và sức khỏe nhân dân.

Theo quy định của pháp luật, phân phối thuốc là hoạt động phân chia và di chuyển, bảo quản thuốc trong quá trình di chuyển từ kho của cơ sở sản xuất thuốc, nhập khẩu thuốc hoặc từ cơ sở phân phối cho đến người sử dụng hoặc đến các điểm phân phối hoặc giữa các điểm phân phối bằng các phương tiện vận chuyển khác nhau. Đối với dịch vụ phân phối, tại Biểu cam kết WTO đã quy định rõ dịch vụ phân phối dược phẩm được loại trừ ra khỏi phạm vi cam kết đối với mọi phương thức cung cấp. Bên cạnh đó, Phụ lục 03 Thông tư 24/2016/TT-BCT công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến múa bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng ghi nhận dược phẩm thuộc danh mục hàng hóa không được thực hiện quyền phân phối.

Đối với vấn đề này, Cục Quản lý dược thể hiện quan điểm như sau: “Việc ngừng cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cung cấp dịch vụ bảo quản, vận chuyển thuốc là nhằm ngăn chặn hoạt động phân phối thuốc trá hình tại Việt Nam, góp phần bảo đảm an ninh y tế và hướng tới chuyên nghiệp hóa hệ thống phân phối thuốc tại Việt Nam.”

Điểm c khoản 10 điều 91 Nghị định 54/2017/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 08/05/2017 quy định về các trường hợp không được quyền phân phối thuốc như sau:

“10. Các cơ sở có quyền nhập khẩu nhưng không được thực hiện quyền phân phối thuốc, nguyên liệu làm thuốc tại Việt Nam không được thực hiện các hoạt động liên quan trực tiếp đến phân phối thuốc, nguyên liệu làm thuốc tại Việt Nam, trừ thuốc và nguyên liệu làm thuốc do chính cơ sở sản xuất tại Việt Nam, bao gồm:

… c) Vận chuyển, nhận bảo quản thuốc, nguyên liệu làm thuốc.”

Theo nội dung này, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không được được vận chuyển và nhận bảo quản thuốc, trừ thuốc và nguyên liệu làm thuốc do chính doanh nghiệp đó sản xuất tại Việt Nam. Có thể thấy, việc hạn chế quyền phân phối thuốc đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là nhằm các mục tiêu bảo đảm bảo an ninh y tế, chủ động trong việc cung ứng và phân phối thuốc, hướng tới chuyên nghiệp hóa hệ thống phân phối thuốc trong nước làm nền tảng hỗ trợ cho phát triển công nghiệp dược nội địa, đồng thời góp phần kiểm soát tốt hơn về giá thuốc trên thị trường.

For Clients Speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Nguồn: ANT Lawyers

Người nước ngoài có thể ủy quyền thực hiện chuyển nhượng nhà ở đã mua tại Việt Nam không?


Trong tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn đang có những diễn biến phức tạp, Chính Phủ vẫn tiếp tục thực hiện các chính sách hạn chế nhập cảnh vào Việt Nam nên có rất nhiều giao dịch bị hủy hoặc bị hoãn lại. Điều đó đã gây ra không ít trở ngại cho các cá nhân, tổ chức nước ngoài có nhu cầu thực hiện giao dịch tại Việt Nam. Trong bài viết này chúng tôi đề cập đến giao dịch chuyển nhượng quyền sở hữu nhà ở đối với cá nhân nước ngoài khi không thể nhập cảnh vào Việt Nam để tham gia ký kết hợp đồng chuyển nhượng và các giao dịch có liên quan khác.

Căn cứ theo pháp luật về nhà ở, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, trước khi hết hạn sở hữu nhà thì chủ sở hữu có thể tặng cho hoặc bán nhà ở này cho các đối tượng thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; nếu quá thời hạn được sở hữu nhà ở mà chủ sở hữu không thực hiện bán, tặng cho thì nhà ở đó thuộc sở hữu nhà nước. Về thời hạn sở hữu nhà, nếu tổ chức, cá nhân nước ngoài bán hoặc tặng cho nhà ở cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì bên mua, bên nhận tặng cho được sở hữu nhà ở ổn định lâu dài. Trường hợp bán hoặc tặng cho nhà ở cho tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì bên mua, bên nhận tặng cho chỉ được sở hữu nhà ở trong thời hạn còn lại; khi hết thời hạn sở hữu còn lại mà chủ sở hữu có nhu cầu gia hạn thêm thì được Nhà nước xem xét, gia hạn thêm. Bên bán nhà ở phải nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính cho Nhà nước Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Theo quy định của pháp luật về điều kiện của các bên tham gia giao dịch về nhà ở thì bên bán, chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại phải có điều kiện sau đây:

  • Là chủ sở hữu nhà ở hoặc người được chủ sở hữu cho phép, ủy quyền để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở và pháp luật về dân sự; trường hợp chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại thì phải là người đã mua nhà ở của chủ đầu tư hoặc người đã nhận chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở;
  • Nếu là cá nhân thì phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự để thực hiện giao dịch về nhà ở theo quy định của pháp luật dân sự; nếu là tổ chức thì phải có tư cách pháp nhân.

Điều 195 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của luật.”

Khoản 2 Điều 55 Luật Công chứng 2014 quy định: “Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền”.

Như vậy, để có thể thực hiện giao dịch mua bán nhà ở, các bên tham gia giao dịch nhà ở cần thỏa thuận lập hợp đồng mua bán hoặc văn bản chuyển nhượng hợp đồng mua bán nhà ở thương mại. Trong trường hợp chủ sở hữu nhà ở là người nước ngoài không thể nhập cảnh trực tiếp tham gia ký kết hợp đồng thì có thể ủy quyền cho cá nhân, tổ chức khác ở Việt Nam thực hiện thay. Tuy nhiên, văn bản ủy quyền cần phải được công chứng tại cơ quan có thẩm quyền. Trường hợp văn bản ủy quyền được công chứng tại cơ quan có thẩm quyền tại nước ngoài thì cần phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định thì văn bản đó mới có thể được sử dụng tại Việt Nam.


For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam


Nguồn: ANT Lawyers

Thứ Tư, 16 tháng 11, 2022

Tên thương mại là gì? Điều kiện bảo hộ đối với tên thương mại

Nguồn: ANT Lawyers

1. Tên thương mại là gì?

Theo khoản 21 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

Trong đó, khu vực kinh doanh là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng.

2. Điều kiện bảo hộ đối với tên thương mại

Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng hợp pháp tên thương mại đó.

Điều 76, 78 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định về điều kiện bảo hộ đối với tên thương mại như sau:

- Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh.

- Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau:

+ Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng;

+ Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh;

+ Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng.

* Lưu ý: Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại theo Điều 77 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 bao gồm:

- Tên của cơ quan nhà nước;

- Tên tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp;

- Tên của chủ thể khác không liên quan đến hoạt động kinh doanh.

3. Quy định về sử dụng tên thương mại

- Theo khoản 6 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ 2005, sử dụng tên thương mại là việc thực hiện hành vi nhằm mục đích thương mại bằng cách:

+ Dùng tên thương mại để xưng danh trong các hoạt động kinh doanh;

+ Thể hiện tên thương mại trong các giấy tờ giao dịch, biển hiệu, sản phẩm, hàng hoá, bao bì hàng hoá và phương tiện cung cấp dịch vụ, quảng cáo.

- Phạm vi quyền đối với tên thương mại theo khoản 2 Điều 16 Nghị định 103/2006/NĐ-CP được xác định theo phạm vi bảo hộ tên thương mại, gồm tên thương mại, lĩnh vực kinh doanh và lãnh thổ kinh doanh trong đó tên thương mại được chủ thể mang tên thương mại sử dụng một cách hợp pháp.

Việc đăng ký tên gọi của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong thủ tục kinh doanh không được coi là sử dụng tên gọi đó mà chỉ là một điều kiện để việc sử dụng tên gọi đó được coi là hợp pháp.

- Khoản 2 Điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đó đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại.

For clients speaking English, ANT Lawyers is a law firm in Vietnam with English speaking lawyers, located in the business centers of Hanoi, Danang and Ho Chi Minh City to provide convenient access to our clients. Please contact us via email ant@antlawyers.vn or call our office at +84 28 730 86 529 for legal service in Vietnam

Nguồn: Thư Viện Pháp Luật